☾ Truyện Ma Có Thật
← Ngoại đi bán chè mỗi chiều

Chương 4: Người bán nhang

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Cái gánh tôi không treo lại lên gác lửng. Tôi để nó trong góc bếp, dưới chân cầu thang, lấy tấm vải mưa trùm lên. Má về thấy, hỏi, tôi nói bà leo lên lấy xuống. Má không tin, nhưng má cũng không hỏi nữa.

Sáng chủ nhật má ở nhà với bà. Tôi mua một hộp bánh in ở tiệm bánh đầu đường Hải Thượng Lãn Ông, chạy xe lên chùa Bà.

Bà cụ bán nhang ngồi đúng chỗ cũ, dưới gốc me. Buổi sáng hẻm đông hơn, người đi chùa ghé mua nhang, mua giấy tiền. Bà bán, thối tiền, gói đồ bằng giấy báo, tay chậm mà không sai. Thấy tôi, bà ngưng tay một chút rồi bán tiếp, như không thấy.

Tôi đứng đợi tới khi vắng khách. Rồi tôi đặt hộp bánh lên góc bàn.

"Con hỏi chuyện hôm bữa, bà đừng giận."

Bà cụ nhìn hộp bánh, rồi nhìn tôi. Bà tên Hồng. Người trong hẻm kêu bà là bà Hồng nhang. Tám mươi tuổi. Ngồi gốc me này bán nhang từ năm mười bảy tuổi, chưa bỏ ngày nào trừ mấy năm sau giải phóng, rồi lại ngồi tiếp. Bà nói tiếng Việt rành nhưng vẫn lẫn giọng Quảng, chữ "r" thành chữ "g", chữ "gì" thành chữ "dì".

"Bà ngoại cô khoẻ hông?"

"Dạ, về rồi thì ngủ một giấc. Sáng nay tỉnh."

Bà Hồng gật đầu. Bà mở hộp bánh, lấy một cái, bẻ đôi, ăn một nửa, gói nửa kia lại trong giấy. Rồi bà nói, giọng đều, không nhìn tôi, nhìn ra gốc me:

"Con nhỏ đó tên Muội. Họ Lý. Ai cũng kêu A Muội. Cha má nó chạy giặc từ bển qua, chết hết ở đây. Nó ở đậu nhà thím Hứa, bà con xa. Tiệm Hứa Ký ở ngoài đường lớn, cách đây có mấy căn. Giờ là tiệm điện thoại."

Bà chỉ tay về phía đầu hẻm.

"Chiều nào nó cũng gánh chè ra đây. Ngồi chỗ gốc me. Chè mè đen, chè đậu xanh phổ tai, tàu hủ nước đường gừng. Mùa nóng thì có sâm bổ lượng. Nó rao hay lắm. Người ta đi chùa ra là phải ghé."

Bà cười một chút.

"Nó hay cho tui một chén. Tui cho nó nhang về đốt cho cha má."

"Hôm bữa bà ngoại con ngồi..."

"Ngồi y chỗ đó. Ngồi y cái kiểu đó. Lưng thẳng, cằm hếch lên, coi người ta đi ngang." Bà Hồng ngưng lại. "Cái gánh cũng y vậy. Thùng sơn đỏ. Có cái chuông đồng nhỏ ở đầu đòn."

Tay tôi lạnh. Tôi để hai tay lên đùi cho khỏi run.

"Nó chết sao bà?"

Bà Hồng lần chuỗi hạt trên cổ tay. Lần hết một vòng mới nói.

"Năm sáu mốt. Tháng Bảy ta. Thím Hứa mất cái lắc vàng. Lắc đeo tay, chạm con cá chép, nặng lắm, của hồi môn. Bả để trong hộc tủ ở nhà sau, đi coi hát về thì không thấy. Trong tiệm có người nói thấy con Muội vô phòng đó. Chú Hứa lục cái gánh của nó, ngay ở đây, ngay giữa hẻm này."

Bà Hồng gõ gõ ngón tay lên mặt bàn.

"Hổng có cái lắc. Mà có một xấp tiền giấy cột thun, giấu dưới lớp thiếc lót thùng. Tiền nó để dành. Nó nói vậy, nó khóc, nó thề."

"Chú Hứa hổng nghe. Chú la lên giữa hẻm, ăn cắp, ăn cắp. Rồi chú tát nó. Cả hẻm ra coi."

"Không ai nói giùm cô hết hả bà?"

Bà Hồng không trả lời. Bà nhìn chuỗi hạt.

"Tối đó nó ngồi ở hiên nhà tui. Ngồi khóc tới khuya. Tui cho nó ăn chén cơm. Nó nói nó đi kiếm anh Tài. Thằng Tài kéo ba gác, người Việt, hai đứa thương nhau, ai cũng biết. Nó nói anh Tài tin nó."

Bà ngưng lại một lúc lâu.

"Ba ngày sau người ta vớt nó lên ở kênh Tàu Hũ. Khúc gần cầu Chữ Y. Bận nguyên bộ đồ bữa bị đuổi."

Hẻm vẫn ồn. Có tiếng xe máy rồ ga, tiếng người mặc cả nhang. Tôi không nghe gì rõ.

"Còn anh Tài?"

"Hổng biết. Sau bữa đó hổng thấy ra hẻm nữa. Có người nói nó đi chỗ khác chạy ba gác."

Bà Hồng nhún vai.

"Tiệm Hứa Ký kiếm đứa khác gánh chè ra đây. Một đứa người Việt, con nhỏ rửa chén trong tiệm. Gánh được mấy năm. Tên dì tui quên rồi. Nó hổng có nói chuyện với ai. Rao cũng hổng ra tiếng."

"Bà có nhớ mặt cô đó không?"

"Năm chục năm gồi, cô." Bà Hồng nhìn tôi, mắt đục. "Tui nhớ con Muội vì tui đốt nhang cho nó mỗi năm. Mùng bốn tháng Tám. Người ta nói chết oan mà hổng ai cúng thì đói. Tui nghèo, tui chỉ có nhang."

Tôi hỏi cái lắc rốt cuộc có tìm thấy không. Bà Hồng lắc đầu.

"Hổng ai thấy. Thím Hứa tiếc tới chết."

Tôi ngồi thêm một lúc, rồi đứng dậy xin phép về. Bà Hồng níu tay tôi lại, như hôm bữa.

"Bà ngoại cô tên dì?"

"Dạ, bà con tên Sương. Lê Thị Sương. Người Cần Đước."

Bà Hồng lẩm bẩm cái tên, lắc đầu. "Hổng biết." Rồi bà buông tay tôi, quay lại với bàn nhang.

Tôi về tới nhà gần trưa. Má đang đút cháo cho bà. Bà tỉnh, nhai chậm, hỏi tôi đi đâu về. Tôi nói đi chùa. Bà không hỏi chùa nào.

Cả buổi trưa không có gì. Má lên lầu ngủ. Tôi ngồi gấp quần áo dưới nhà, cạnh giường bà.

Trời âm u, chưa tới ba giờ mà nhà đã tối như chạng vạng. Ngoài hẻm, mấy con chim sẻ đậu trên dây điện tự nhiên bay hết. Tiếng ve trên cây bàng đầu hẻm cũng tắt.

Mùi gừng bốc lên từ góc bếp.

Rồi tiếng chuông. Không phải từ trên gác lửng, mà từ dưới tấm vải mưa dưới chân cầu thang. Tiếng chuông bị vải trùm nên đục và ngắn, như người ta bóp nó trong lòng bàn tay.

Bà tôi ngồi thẳng dậy trên giường. Bà không nhìn ra bếp. Bà nhìn tôi, nhìn thẳng vô mặt tôi, như người ta nhìn kẻ vừa đi nói lén chuyện mình.

Rồi bà nói, bằng tiếng Việt, từng chữ một, lơ lớ, rõ ràng:

"Con Hồng... nói dì với cô?"