Chương 6: Tấm ảnh tiệm chè
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi hỏi bà "nó" là ai. Bà nhắm mắt lại, lắc đầu, nói không có ai hết, con nghe lầm. Rồi bà quay mặt vô tường như bữa trước.
Từ hôm đó những buổi chiều dài ra. A Muội ở lại lâu hơn, có bữa tới hai tiếng. Có bữa mùi gừng bốc lên từ lúc nắng còn chưa xế. Còn bà ngoại tôi, những lúc tỉnh, ngắn lại và mờ đi. Bà ăn ít, ngủ nhiều, giật mình liên tục. Có lần tôi nghe bà nói mớ, chỉ một chữ "không", lặp đi lặp lại.
Tôi trở lại chùa Bà. Lần này bà Hồng không đợi tôi hỏi.
"Cô đi kiếm thằng Vĩnh. Con út chú Hứa. Nó còn ở trên lầu căn tiệm cũ. Nó biết nhiều hơn tui."
Căn tiệm cũ giờ là tiệm điện thoại di động, mặt tiền dán kín quảng cáo, đèn trắng sáng choang. Bên hông có một cánh cửa sắt nhỏ, mở ra cầu thang gỗ dốc đứng. Tôi bấm chuông. Một lúc sau có tiếng dép lẹp xẹp đi xuống.
Chú Hứa Vĩnh sáu mươi sáu tuổi, cao, ốm, mặc áo thun ba lỗ, đeo kính lão trễ xuống mũi. Chú sửa radio cũ, trên lầu bày la liệt máy móc, mùi nhựa thông hàn chì. Chú nghe tôi nói tên A Muội thì đứng im ở chân cầu thang, tay vẫn cầm cây mỏ hàn đã nguội.
"Ai biểu cô tới?"
"Dạ, bà Hồng bán nhang."
Chú thở ra, rồi quay lưng đi lên. Tôi đi theo.
Trên lầu chú pha trà, rót cho tôi một ly nhỏ. Tôi kể, kể hết, từ mùi gừng tới cái gánh tới chuyện bà ngoại tôi nói tiếng Quảng. Chú nghe không ngắt lời. Kể xong, chú đứng dậy, đi vô phòng trong, lục lọi một hồi, đem ra một cái hộp bánh bằng thiếc, nắp in hình hoa mẫu đơn đã tróc sơn.
Trong hộp là ảnh. Ảnh cũ, giấy dày, mép răng cưa. Chú lựa một tấm, đưa tôi.
"Năm sáu mươi. Tết. Ba tui mướn thợ chụp trước tiệm."
Trong ảnh là mặt tiền một tiệm nhỏ, bảng hiệu có chữ Hán viết tay. Đứng giữa là một người đàn ông mập, mặc áo bà ba trắng, mặt nghiêm. Cạnh ông là một người đàn bà tóc búi, mặc áo dài tối màu, tay trái đặt lên tay phải để khoe cái lắc vàng to bản trên cổ tay. Thằng nhỏ đứng trước mặt bà, đầu cạo trọc, là chú Vĩnh hồi mười bốn tuổi.
Bên trái họ, một đứa con gái đứng cạnh cái gánh. Hai thùng sơn sẫm màu, có nắp, cây đòn gánh gác trên vai. Đứa con gái cười, cười tươi tới mức nheo cả mắt, cằm hơi hếch lên. Tóc thắt bím dài vắt qua vai.
Tôi nhìn cái cằm ấy, cái lưng thẳng ấy, và tôi biết. Chiều thứ sáu, dưới gốc me, bà ngoại tôi đã ngồi đúng như vậy.
"A Muội," chú Vĩnh nói.
"Còn đây là ai chú?"
Tôi chỉ vô góc phải tấm ảnh. Sát mép ảnh có một đứa con gái ngồi chồm hổm trên vỉa hè, trước mặt là một cái thau nhôm đầy chén. Đứa con gái bận áo bà ba sẫm, ốm nhom. Nó không nhìn vô ống kính. Nó quay đầu đi, quay về phía A Muội, nên mặt bị nhoè vì cử động. Chỉ thấy được nửa gò má và một bên tai.
Chú Vĩnh nheo mắt nhìn.
"Con nhỏ rửa chén. Người Việt. Dưới Long An lên. Ở trong tiệm được chừng một năm."
Chú gãi đầu.
"Tên gì tui quên. Hồi đó tui kêu nó là chị Út. Nó ít nói lắm."
Long An. Cần Đước là một huyện của Long An. Tôi để tấm ảnh xuống bàn, tay đặt lên đùi.
"Hồi thím Hứa mất lắc," tôi hỏi, "ai nói thấy cô Muội vô phòng?"
Chú Vĩnh nhìn tôi qua cặp kính lão.
"Con nhỏ rửa chén đó." Chú nói chậm. "Nó nói với má tui. Nó nói tối đó nó thấy A Muội đi ra từ phòng sau. Má tui tin, vì nó ít nói, hổng bao giờ nói bậy."
"Rồi sau đó?"
"Sau đó thì cô biết rồi. Ba tui lục gánh, thấy tiền, đuổi. A Muội chết. Cái lắc hổng thấy. Má tui tiếc tới lúc mất, mà má tui cũng hổng vui nữa. Má tui nói đáng lẽ hổng nên tin."
Chú rót thêm trà.
"Con nhỏ rửa chén lên gánh chè thế. Gánh được mười mấy năm, tới hồi tiệm dẹp. Ba tui cho nó luôn cái gánh. Rồi hổng biết đi đâu."
Tôi muốn hỏi thêm mà cổ họng nghẹn. Tôi xin chụp lại tấm ảnh bằng điện thoại. Chú gật đầu. Lúc tôi đứng dậy về, chú nói thêm, giọng ngập ngừng:
"Ba tui có giữ cuốn sổ chi tiền lương. Hồi đó ghi tên từng người. Để tui kiếm thử. Lâu quá rồi, hổng biết còn hông."
Chiều đó tôi về nhà, bà đang ngủ. Tôi ngồi cạnh giường, mở tấm ảnh trong điện thoại ra, phóng to góc phải. Gương mặt nhoè. Nửa gò má. Một bên tai.
Tôi nhìn qua bà ngoại tôi đang ngủ, nghiêng mặt vô tường. Nửa gò má. Một bên tai. Tôi không biết nữa. Bảy mươi tuổi và mười tám tuổi, cách nhau năm chục năm.
Mùi gừng bốc lên.
Lần này không có tiếng chuông. Cái gánh dưới chân cầu thang vẫn trùm vải mưa, im lìm. Tôi thấy lạ, quay ra nhìn. Rồi tôi thấy tấm vải mưa đang ướt. Ướt sũng từ trên xuống, nước nhỏ tong tong xuống nền gạch, đọng thành vũng. Trong nhà không có chỗ nào dột.
Bà ngồi dậy. A Muội ngồi dậy. Mắt sáng lên, lưng thẳng, cằm hếch.
Bà thấy cái điện thoại trong tay tôi, thấy tấm ảnh trên màn hình. Bà giật lấy, nhanh tới mức tôi không kịp phản ứng. Bà nhìn tấm ảnh, nhìn chính mình mười bảy tuổi đang cười bên gánh chè. Rồi ngón tay bà trượt sang góc phải, dừng lại ở đứa con gái ngồi bên thau chén.
Bà nhấn ngón tay lên đó. Nhấn mạnh, mạnh nữa, tới khi móng tay trắng bệch. Màn hình kêu răng rắc. Một vết nứt chạy từ dưới ngón tay bà xéo lên góc trên.
Bà trả điện thoại cho tôi. Rồi bà nói, giọng bình thường, như kể chuyện thời tiết:
"Nó còn giữ."
"Giữ cái gì, cô?"
Bà không trả lời. Bà nhìn ra phía bếp, phía cửa sau, phía con kênh.