☾ Truyện Ma Có Thật
← Ngoại đi bán chè mỗi chiều

Chương 7: Bờ kè kênh Tàu Hũ

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Cuối tháng Tám dương lịch, triều cường về. Chiều chiều nước kênh Tàu Hũ dâng lên sát mép kè, tràn qua mấy miệng cống, chảy ngược vô hẻm. Dân trong hẻm kê đồ lên cao, chặn bao cát trước cửa. Cả xóm sống trong mùi nước kênh, cái mùi tanh nồng tôi đã ngửi thấy trên đôi dép của bà.

Tối hôm đó má đi ăn đám cưới con bạn hàng bên Quận 11, gọi điện nói ngủ lại bển vì mưa lớn, nước ngập đường. Nhà còn tôi với bà.

Tôi khoá cửa trước, cửa sau, rồi lấy thêm sợi dây dù cột hai cái then lại với nhau. Tôi kéo ghế bố sát giường bà, nằm nghiêng, một tay đặt lên mép nệm, chạm vô chân bà. Bà động là tôi biết.

Mưa rả rích tới khuya. Rồi mưa tạnh, chỉ còn tiếng nước chảy róc rách dưới cống hẻm.

Tôi không biết mình thiếp đi lúc nào. Tôi tỉnh dậy vì tay tôi trống không.

Giường bà trống. Mền tung ra một bên, gối còn hằn. Tôi bật dậy, bật đèn. Cửa trước then cài. Tôi chạy ra bếp. Cửa sau mở hé. Sợi dây dù vẫn cột hai cái then, nhưng hai cái then đã bị kéo ra khỏi khoen, cong queo như bị ai bẻ.

Tấm vải mưa dưới chân cầu thang nằm bẹp dưới đất. Cái gánh vẫn ở đó. Nhưng cái chuông đồng ở đầu đòn gánh không còn. Sợi dây thép cột chuông bị giật đứt, đầu dây còn xoắn lại.

Tôi chạy ra sau. Sau nhà là con hẻm cụt, đi một đoạn là ra đại lộ, băng qua đường là bờ kè kênh Tàu Hũ.

Đại lộ giờ này vắng tanh. Đèn đường vàng vọt soi xuống mặt nhựa ướt loáng. Bên kia đường, hàng lan can bờ kè chạy dài, sau lan can là mặt kênh đen sì, dâng cao, gần sát mép bờ. Mùi nước kênh ập vô mặt tôi, tanh và lạnh.

Tôi thấy bà ở chỗ bậc cấp. Có một dãy bậc xi măng dẫn từ bờ kè xuống mép nước, chỗ ghe xuồng ngày xưa cập bến. Giờ nước triều dâng, ngập gần hết dãy bậc. Bà đứng ở bậc thấp nhất còn thấy được, nước lấp tới đầu gối.

Bà bận bộ đồ bà ba ngủ màu cháo lòng. Tóc xổ dài sau lưng, ướt dính vô áo. Tay phải bà nắm chặt cái gì đó trước ngực.

Tôi băng qua đường, trèo qua lan can. Tôi kêu bà. Bà không quay lại.

Côn trùng ven bờ cỏ im bặt. Cả mặt kênh không một gợn sóng, phẳng lì như một tấm kiếng đen. Trên kênh không có ghe, không có đèn. Bên kia bờ là dãy nhà Bến Bình Đông tối om, chỉ còn một hai ô cửa sổ le lói.

Tôi bước xuống bậc. Nước kênh lạnh buốt, lạnh không giống nước tháng Tám. Tôi lội xuống tới chỗ bà, nắm lấy cánh tay bà.

Bà quay lại. A Muội quay lại. Mặt bà ướt, không biết nước kênh hay nước mắt. Môi tím ngắt.

"Lạnh quá," bà nói. Tiếng Việt, lơ lớ, run rẩy. "Cô ơi, lạnh quá."

"Mình về nhà, cô. Về nhà đi."

Bà lắc đầu. Bà chỉ tay qua bên kia kênh, về phía dãy nhà Bến Bình Đông.

"Tui đợi anh Tài. Nhà ảnh ở bển. Tui nhờ người nói với ảnh, tui đợi ở bến này. Tui đợi ba đêm." Bà nắm chặt cái thứ trong tay. "Ảnh hổng có tới."

"Cô nhờ ai?"

Bà nhìn tôi, mắt mở to. Không trả lời. Rồi bà quay lại nhìn mặt nước, bước xuống thêm một bậc. Nước lên tới đùi bà.

Tôi giữ chặt cánh tay bà, kéo lại. Bà không nhúc nhích. Một bà già bảy mươi tuổi, người nhẹ hều, chân teo, đứng trong nước như một cái cọc đóng sâu xuống bùn. Tôi kéo, bà kéo ngược lại. Tôi trượt chân, lọt xuống thêm một bậc, nước lên tới bụng tôi.

Dưới nước có gì đó quấn lấy cổ chân tôi. Mềm, lạnh, như tóc. Hay rong rêu. Tôi không biết. Tôi không dám nhìn xuống.

Tôi buông tay ra khỏi cánh tay bà, ôm lấy ngang lưng bà. Tôi kéo bằng hết sức, lưng tôi đập vô cạnh bậc xi măng phía sau. Đau tới tối mắt. Tôi không buông.

"Ngoại ơi!" tôi la. "Ngoại! Con là Diễm nè ngoại!"

Bà khựng lại. Chỉ một chút. Nhưng đủ. Tôi lôi bà lên được một bậc, rồi bậc nữa.

Tay phải bà vẫn nắm chặt trước ngực. Tôi gỡ từng ngón tay bà ra. Mấy ngón tay cứng đờ, lạnh như sắt. Trong lòng bàn tay bà là cái chuông đồng.

Lúc ngón tay cuối cùng bị gỡ ra, cái chuông lật nghiêng. Cái lưỡi chuông, cái hạt đồng nhỏ treo bên trong, đứt rời ra, rớt xuống nước. Không kêu một tiếng nào. Chìm luôn.

Bà nhìn theo chỗ nó chìm. Rồi bà ngước lên nhìn tôi. Ánh mắt A Muội, nhưng không còn sáng. Mệt mỏi, cũ kỹ, như mắt người đã đợi quá lâu.

"Kêu nó trả lại cho tui."

"Ai? Trả cái gì?"

"Nó biết."

Rồi bà xụi xuống trong tay tôi.

Tôi cõng bà về. Bà nhẹ như cõng một bó củi khô. Nước trên người hai bà cháu nhỏ thành vệt dài từ bờ kè qua tới đại lộ, vô hẻm. Cái chuông không lưỡi tôi bỏ trong túi quần, nó cấn vô đùi tôi suốt đường về.

Tôi thay đồ cho bà, lau khô, đắp mền. Bà ngủ mê man, thở khò khè. Tôi ngồi cạnh giường tới sáng, không dám chợp mắt.

Sáng ra má về. Tôi kể lại hết. Má nghe xong, mặt tái, không nói gì. Má đi xuống bếp nấu nước.

Một lúc sau tôi nghe má kêu tôi. Giọng má lạ lắm.

Má đang đứng ở đầu giường bà, chỗ góc tường. Dưới gầm giường bà, từ hồi tôi nhớ được, luôn có một cái rương gỗ long não, khoá bằng một ổ khoá đồng. Bà giữ chìa khoá trong túi áo, chưa bao giờ cho ai mở.

Cái rương đã bị kéo ra khỏi gầm giường. Ổ khoá vẫn khoá. Nhưng trên nắp rương, quanh chỗ ổ khoá, có những vết cào. Vết móng tay, sâu, ngoằn ngoèo, như có ai cào cả đêm để mở nó ra.

Tôi nhìn xuống tay bà ngoại đang đặt trên mền. Mười đầu ngón tay bà đầy những mảnh vụn gỗ, móng tay gãy, rướm máu.