☾ Truyện Ma Có Thật
← Ngoại đi bán chè mỗi chiều

Chương 8: Cuốn sổ lương

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Trưa hôm đó bà lên cơn sốt. Sốt cao, mê sảng, người nóng hầm hập mà tay chân lạnh ngắt. Má gọi xe đưa bà vô bệnh viện quận. Bác sĩ nói viêm phổi, chắc do nhiễm lạnh, người già sức yếu, phải nằm lại theo dõi.

Má không hỏi bà nhiễm lạnh ở đâu. Má cũng không hỏi về cái rương. Má lấy băng keo cá nhân dán từng đầu ngón tay cho bà, mười ngón, rồi đẩy cái rương vô lại gầm giường.

Hai đêm ở bệnh viện, không có mùi gừng. Bà nằm truyền dịch, ngủ li bì, tỉnh dậy thì mơ màng kêu khát. Không nói tiếng Quảng, không xưng A Muội. Nằm giường bên là một bà cụ người Hoa, con cháu tới thăm nói tiếng Quảng ồn ào. Bà tôi nghe mà không phản ứng gì, như nghe tiếng mưa.

Tôi ngồi trực đêm với má. Hành lang bệnh viện sáng đèn trắng, mùi thuốc sát trùng. Má ngồi trên cái ghế nhựa, gọt trái táo mà không ăn.

"Hồi ông ngoại mày mất," má nói, không nhìn tôi, "ông nằm mê ba ngày. Mày còn nhỏ, chắc không nhớ."

"Con nhớ chút chút."

"Ông kêu một tiếng hoài. Muội. Muội ơi."

Má cắt trái táo làm tư.

"Má tưởng ông kêu bà. Người xưa đọc truyện Tàu hay kêu vợ là muội, là em. Mà ông chưa bao giờ kêu bà vậy. Cả đời ông kêu bà là bà nó."

Tôi im lặng.

"Bà ngồi cạnh giường, không khóc. Ông kêu được mấy tiếng thì bà đứng dậy đi ra hành lang. Đi ra rồi không vô nữa. Ông mất lúc bà ở ngoài." Má đưa tôi một miếng táo. "Má giận bà chuyện đó cả năm trời."

"Má có biết hồi xưa bà làm gì ở Chợ Lớn không?"

Má nghĩ một lúc.

"Bà kể bà lên Sài Gòn làm rửa chén cho tiệm Tàu. Sau đó được lên gánh hàng. Gặp ông ở đó, ông kéo ba gác chở đá cho tiệm. Bà nói ông theo bà, chiều nào cũng ra ăn hàng của bà." Má cười buồn. "Bà kể có nhiêu đó. Hỏi thêm là bà nói chuyện cũ nhắc làm chi."

Chiều ngày thứ hai, chú Vĩnh gọi điện cho tôi.

"Tui kiếm ra cuốn sổ rồi. Cô ghé được hông?"

Tôi để má ở lại với bà, chạy xe lên Quận 5.

Trên lầu căn tiệm cũ, chú Vĩnh đã dọn một khoảng bàn sạch giữa đống radio. Cuốn sổ đặt ở giữa. Bìa vải xanh đã bạc thành màu xám, gáy sổ bung chỉ, mấy trang đầu rời ra kẹp lại bằng kẹp giấy. Giấy pơ-luya mỏng, ngả vàng như lá chuối khô.

"Sổ chi lương của ba tui. Năm năm chín tới năm sáu hai." Chú đẩy cặp kính lão lên. "Ba tui ghi chữ Hán cho người Hoa. Người Việt thì ba tui ghi chữ Việt, ghi theo lối ba tui nghe, sai chính tả lung tung."

Chú lật cuốn sổ ra một trang có kẹp sẵn mẩu giấy báo. Mực tím, nét chữ nghiêng, nhiều chỗ nhoè vì ẩm.

Mỗi dòng là một tên người, cạnh đó số tiền. Phần lớn là chữ Hán tôi không đọc được. Chú Vĩnh lấy ngón tay dò từng dòng, đọc cho tôi nghe. Thợ nấu chè. Thợ xay bột. Người chạy bàn. Dòng thứ năm, chú ngưng lại.

"A Muội. Gánh chè."

Rồi ngón tay chú dò xuống dòng thứ bảy. Dòng này viết bằng chữ Việt, nét chữ vụng như con nít mới tập.

Út Xương. Rửa chén.

Tôi nhìn chữ "Xương", rồi đọc thầm lại cho đúng cái giọng người Hoa nói tiếng Việt. Út Sương.

Tim tôi đập mạnh tới mức tôi nghe nó dưới cổ họng.

Chú Vĩnh lật qua mấy trang. Tháng Bảy năm Tân Sửu. Dòng A Muội bị gạch ngang bằng một nét mực đỏ. Chú lật thêm một trang nữa. Tháng Tám.

Út Xương. Gánh chè.

Ở lề trang tháng Tám, có một dòng chữ Hán nhỏ viết bằng mực đen, khác hẳn mực tím. Chú Vĩnh đọc chậm, rồi dịch:

"Tiền của A Muội, ba trăm hai chục đồng, đưa hội quán lo chôn cất."

Chú Vĩnh tháo kính ra, lau lên vạt áo. Chú nói, không nhìn tôi:

"Ba tui giữ xấp tiền đó. Sau khi người ta vớt con nhỏ lên, ba tui đem đưa hội quán. Đó là tiền nó để dành cưới chồng." Chú đeo kính lại. "Cô quen người tên Sương hả?"

Tôi không trả lời được. Tôi lấy điện thoại ra, mở tấm ảnh tiệm chè. Vết nứt trên màn hình chạy xéo qua đúng góc phải, ngay chỗ đứa con gái ngồi bên thau chén. Nửa gò má. Một bên tai.

Tôi nghĩ tới chiếc ảnh cưới năm sáu hai treo ở nhà trước. Ông ngoại tôi bận sơ mi trắng. Bà ngoại tôi bận áo dài, đứng lệch về một bên, nghiêng đầu, nửa mặt khuất trong bóng.

Bà ngoại tôi tên Lê Thị Sương. Con út. Người Long An. Lên Sài Gòn năm mười bảy tuổi.

"Bà ngoại con," tôi nói. Giọng tôi nghe như của người khác.

Chú Vĩnh nhìn tôi rất lâu. Rồi chú gấp cuốn sổ lại, hai tay đặt lên bìa, như đặt tay lên một cái gì còn ấm.

"Con nhỏ rửa chén đó," chú nói chậm, "nó là người nói thấy A Muội vô phòng má tui."

Điện thoại tôi rung. Má gọi. Tôi bấm nghe mà tay run, suýt làm rớt.

"Diễm, về liền đi con." Giọng má gấp. "Bà tỉnh rồi. Tỉnh lắm, nhận ra má, nhận ra hết. Bà đòi về nhà. Bác sĩ không cho, bà la lên, bà nói phải về."

"Bà nói gì nữa không má?"

Má im một lúc. Tôi nghe tiếng thở của má trong điện thoại.

"Bà đưa má cái chìa khoá rương. Bà biểu đưa cho con. Bà nói chỉ con được mở." Má ngừng lại. "Bà nói, để con mở cho nó coi."