☾ Truyện Ma Có Thật
← Người chồng sau cơn hôn mê

Chương 2: Giọng nói lạ

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Khải mở mắt vào ngày thứ mười chín, một buổi sáng mưa dầm. Lúc đó tôi đang ở sạp. Chị Liên chạy qua nói bà Tư đầu hẻm gọi điện vô chợ, bệnh viện báo về nhà rồi. Tôi đạp xe đạp vô, quên cả khoá sạp.

Họ đã rút ống thở. Khải nằm nghiêng, mắt mở, nhìn ra cửa sổ có song sắt. Má chồng tôi ngồi ở đầu giường, nắm tay anh, khóc tới đỏ mũi. Bà kêu: "Khải ơi, má nè con, má nè." Khải quay đầu lại nhìn bà, chậm, như cái cổ không phải của mình.

Rồi anh nhìn tôi.

Tôi đã quen với đôi mắt ấy sáu năm. Mắt Khải hẹp, lòng trắng hơi đục vì rượu, nhìn ai cũng như đang đo xem người đó nợ mình cái gì. Đôi mắt trên giường bệnh vẫn là đôi mắt ấy, vẫn hẹp, vẫn đục. Nhưng cái nhìn thì khác. Nó chậm, nó dừng trên mặt tôi lâu, rồi nó cụp xuống, ngượng ngùng, như người lỡ nhìn một cô gái lạ trên xe buýt.

Anh mở miệng. Tiếng ra khàn đặc vì mười chín ngày có ống trong cổ. Anh nói mấy tiếng, tôi không hiểu. Má chồng tôi cũng không hiểu. Bà cúi sát xuống, hỏi lại, anh nói lại. Mấy tiếng ấy tròn, lên xuống, nặng ở cuối, nghe như mấy ông già ngồi uống trà ở quán đầu đường Phùng Hưng nói với nhau.

Tiếng Quảng Đông. Tôi ở Chợ Lớn từ nhỏ, tôi không biết nói, nhưng tôi biết nghe nó ra sao.

* * *

Bác sĩ khám rồi gọi tôi ra hành lang. Ông giải thích nhanh, như đã nói câu này nhiều lần. Chấn thương vùng thái dương, có khi ảnh hưởng ngôn ngữ, bệnh nhân nói lộn, nói không ra từ, nói giọng lạ. Ông kể có ca ở nước ngoài, người ta tỉnh dậy nói giọng của một vùng khác. Ông nói chuyện này hiếm nhưng có, sẽ đỡ dần.

Tôi hỏi, nhưng ảnh đâu có biết tiếng Hoa.

Ông bác sĩ nhìn tôi qua cặp kính. Ông nói nhà ở Chợ Lớn thì nghe từ nhỏ, đầu óc giữ lại hồi nào không biết. Ông nói đừng lo.

Tôi về lại phòng. Má chồng tôi đang đút cháo cho Khải. Bà cầm muỗng bên phải, theo thói quen, đưa vô phía tay phải của anh. Khải không há miệng. Anh đưa tay trái lên, lấy cái muỗng khỏi tay bà, nhẹ nhàng, rồi tự múc, tự ăn. Cái muỗng nằm trong tay trái anh tự nhiên như nó vẫn nằm đó cả đời.

Má chồng tôi nhìn tôi. Tôi nhìn cái muỗng.

* * *

Bốn ngày sau Khải chuyển xuống phòng thường. Anh nói được nhiều hơn, nhưng vẫn là cái giọng tròn tròn ấy, lâu lâu lẫn vô một chữ tiếng Việt, đọc lơ lớ như người Hoa lớn tuổi mới học. Anh gọi má chồng tôi là "bà". Anh gọi tôi là "cô". Có khi anh gọi tôi là "A Hạnh", kéo dài chữ A ra, kiểu người Hoa trong hẻm gọi nhau.

Khải chưa bao giờ gọi tôi như vậy. Khải gọi tôi là "con kia", lúc vui thì "bà xã", lúc say thì không gọi, chỉ kéo cửa sắt.

Một chiều, cô y tá đưa tờ giấy cam kết cho người nhà ký, để quên cây bút trên bàn đầu giường. Khải cầm lên. Tay trái. Anh kéo tờ giấy lại, lật mặt sau, rồi viết.

Tôi không đọc được chữ Hoa. Nhưng tôi biết nét chữ đẹp hay xấu, như ai cũng biết. Nét chữ Khải viết tay phải, những lần hiếm hoi anh ghi sổ nợ ở tiệm, to, nghiêng, đè mạnh tới rách giấy. Mấy chữ trên tờ giấy ấy thì nhỏ, đều, từng nét móc lên, từng nét chấm xuống chắc nịch, xếp thành một cột dọc từ trên xuống. Viết xong anh nhìn nó, lâu, rồi gấp làm tư, nhét dưới gối, chỗ lá bùa má chồng tôi để.

Tối đó tôi lén lấy tờ giấy ra, đem về.

* * *

Nhà tôi ở sâu trong hẻm, hẻm có một xe hủ tiếu mì của chú Lý, người Hoa, đẩy ra đẩy vô mỗi tối. Chú bán ở đó từ hồi tôi còn đi học. Tôi đưa tờ giấy cho chú, nói chồng con viết lúc nằm viện, chú coi giùm.

Chú Lý chùi tay vô cái tạp dề, cầm tờ giấy dưới bóng đèn treo trên xe. Chú đọc, chân mày chú nhíu lại.

"Toa thuốc," chú nói. "Toa thuốc bắc. Đương quy, xuyên khung, bạch thược. Mấy vị bổ huyết. Liều nhẹ, cho đàn bà."

Tôi hỏi, cho ai.

Chú Lý chỉ vô dòng chữ nhỏ cuối cột. "Không ghi tên người bệnh. Có ghi tên người ra toa. Họ Lương." Chú gấp tờ giấy lại, trả tôi. "Thằng Khải nó biết chữ hồi nào vậy?"

Tôi không trả lời được.

Chú nhìn tôi một lúc. Rồi chú nói, giọng chú thấp hơn: "Nét chữ này là nét chữ ông già. Mấy ông thầy thuốc đời trước học chữ ở trường Tàu mới viết vậy. Tụi nhỏ bây giờ không ai viết vậy nữa."

* * *

Tôi về tới nhà thì chín giờ. Căn nhà ống tối, im. Cái cửa sắt xếp phía trước tôi kéo ra, kéo vô, khoá lại, tiếng nó rít trên đường ray nghe như tiếng ai nghiến răng. Hai mươi ngày nay không ai kéo nó lúc nửa đêm. Tôi đã ngủ được những giấc ngủ mà sáu năm rồi tôi không có.

Tôi để tờ giấy lên bàn thờ ông bà, chặn bằng cái lư hương. Tôi đi tắm.

Lúc tôi ra, trong nhà có mùi.

Mùi đương quy. Ngọt, hăng, đắng ở cuối. Không đậm như trong phòng hồi sức. Chỉ một sợi, lởn vởn quanh bàn thờ, như ai mới mở một ngăn kéo thuốc rồi đóng lại.

Nhà tôi không có thuốc bắc. Khải không uống thuốc bắc. Khải chỉ uống rượu đế và cà phê đá.

Tôi đứng giữa nhà, tóc còn nhỏ nước xuống vai. Tờ giấy trên bàn thờ đã được mở ra. Nó không còn gấp làm tư. Nó nằm phẳng dưới cái lư hương, mặt có chữ ngửa lên, như có người mới đọc lại nó.