Chương 3: Người đàn ông pha trà
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Khải xuất viện đầu tháng Năm. Tôi chở anh về bằng chiếc Dream của tiệm, chiếc anh đi bữa té đã nát đầu, nằm trong kho công an phường. Anh ngồi sau, hai tay để trên đùi, không ôm eo tôi, không vịn vai. Tới mỗi ngã tư anh lại nghiêng đầu nhìn quanh, nhìn bảng hiệu, nhìn mái ngói, như người đi xa lâu năm mới về, thấy cái gì cũng lạ mà cũng quen.
Má chồng tôi ở lại thêm một tuần rồi về Cần Giuộc coi vườn. Trước khi đi bà dặn tôi ráng chăm nó, bác sĩ nói từ từ nó nhớ lại. Bà không nói ra nhưng tôi biết bà sợ. Bà sợ đứa con trai bà đứng đó, nói giọng một người khác, gọi bà là "bà".
* * *
Tuần đầu ở nhà, tôi đóng sạp nghỉ, ở nhà với anh.
Sáng nào tôi thức dậy cũng nghe dưới bếp có tiếng nước sôi. Khải dậy trước tôi. Khải mà tôi biết chưa bao giờ dậy trước bảy giờ, trừ bữa nào có khách đặt sửa xe sớm. Còn người đàn ông dưới bếp thì dậy khi trời còn tối, nấu nước, súc cái ấm đất tôi cất trong tủ từ hồi đám cưới chưa đụng tới, tráng chén bằng nước sôi ba lần, rồi pha trà. Anh ngồi ở bậc cửa sau, uống từng ngụm nhỏ, nhìn ra cái giếng trời.
Anh pha cho tôi một chén. Lúc đưa, anh cầm chén bằng tay trái, tay phải đỡ dưới đáy. Kiểu mấy ông già người Hoa mời trà khách quý.
Tôi uống. Trà đắng mà hậu ngọt. Tôi không biết trong nhà có loại trà này.
* * *
Anh không đụng tới rượu. Thùng bia tôi để sau kẹt cửa, anh nhìn qua một lần rồi không nhìn nữa. Chai rượu đế ngâm chuối hột trên nóc tủ, anh nhấc xuống, mở nắp, ngửi, rồi nhăn mặt đậy lại như ngửi phải dầu hôi. Gói thuốc lá Hero trong túi áo cũ, anh moi ra, cầm lên lật qua lật lại, rồi để lên bàn thờ cạnh tờ toa thuốc. Như để trả lại cho ai.
Anh quét nhà. Anh quét kỹ, quét từ trong ra ngoài, quét luôn mấy góc tủ mà Khải chưa bao giờ biết nó có. Anh lau cái tủ kính. Anh xếp lại kệ dép. Anh đứng rất lâu trước cái tủ thờ, nhìn tấm hình ba chồng tôi, rồi chắp tay xá ba cái, cúi thấp, kiểu người lạ vô nhà người ta thì phải chào chủ nhà.
Ban đêm, anh không lên lầu. Anh trải chiếu nằm ở phòng khách, trên bộ ván gõ. Tôi nằm trên lầu, nghe dưới nhà im phăng phắc. Không tiếng ngáy. Không tiếng ho khạc của người hút thuốc. Chỉ có lâu lâu tiếng trở mình rất khẽ, và một sợi mùi đương quy bay lên tới cầu thang.
Sáu năm, chưa đêm nào tôi ngủ yên như tuần ấy. Tôi biết như vậy là không đúng. Tôi vẫn ngủ.
* * *
Chú Lý đẩy xe hủ tiếu ngang nhà mỗi tối. Ngày thứ tư, Khải ra cửa đứng nhìn. Chú Lý dừng xe, chào. Khải chào lại, bằng tiếng Quảng Đông. Hai người nói chuyện.
Tôi đứng sau cánh cửa nghe. Tôi không hiểu, nhưng tôi nghe được cái giọng. Giọng chú Lý là giọng người Hoa Chợ Lớn bây giờ, lẫn tiếng Việt, nói nhanh, cười nhiều. Giọng Khải thì chậm, chữ nào ra chữ nấy, có mấy tiếng cuối câu kéo dài, trầm, như ông nội người ta nói chuyện.
Nói một hồi thì chú Lý thôi cười. Chú nhìn Khải từ đầu tới chân. Chú nói gì đó, giọng nhỏ lại. Khải lắc đầu, chậm, rồi chỉ tay về phía cuối đường, phía bên kia đại lộ.
Chú Lý đẩy xe đi. Đi được một đoạn chú quay lại nhìn tôi, nhìn lâu.
Hôm sau chú gặp tôi ở đầu hẻm. Chú nói, không nhìn vô mắt tôi: "Nó xưng ngộ, gọi tao là nị. Kiểu đó bây giờ người ta không xưng với người lớn hơn mình. Mà nó nói chuyện với tao như tao nhỏ hơn nó." Chú dừng lại. "Nó hỏi tao tiệm thuốc ở hẻm bên kia còn mở không."
Tôi hỏi tiệm thuốc nào.
Chú Lý lắc đầu. "Tao không biết. Tao không hỏi."
* * *
Ngày thứ tám, tôi chở anh đi tái khám ở bệnh viện chấn thương.
Bác sĩ khám, nói vết mổ lành tốt, nói chuyện ngôn ngữ thì phải chờ, đưa giấy hẹn tháng sau. Lúc ra, trời chuyển mưa. Tôi chạy tắt qua mấy con đường nhỏ cho mau về. Qua một ngã tư thì anh vỗ nhẹ vô vai tôi. Lần đầu tiên anh chạm vô người tôi từ hồi tỉnh dậy.
"Quẹo trái," anh nói. Tiếng Việt, lơ lớ, nhưng rõ.
Tôi quẹo. Tôi không biết vì sao tôi quẹo.
Anh chỉ đường. Thẳng. Quẹo phải. Qua một cái chợ nhỏ bán đồ khô, mùi tôm khô với mực khô xộc lên. Một cái miếu nhỏ sơn đỏ ở góc đường. Rồi anh vỗ vai tôi lần nữa, chỉ vô một con hẻm chỉ vừa hai chiếc xe máy tránh nhau, hai bên là nhà ống thấp, mái ngói âm dương cũ mèm.
Tôi chưa từng vô hẻm này. Khải cũng chưa. Khải sinh ra ở Cần Giuộc, lên thành phố năm mười tám tuổi, học nghề sửa xe ở quận Sáu, sống ở quận Sáu, nhậu ở quận Sáu với quận Mười Một. Khải không có lý do gì để biết con hẻm này.
Tôi chạy chậm vô. Mưa bắt đầu lắc rắc. Tới gần cuối hẻm, anh đặt tay lên vai tôi, đè xuống một chút. Tôi dừng xe.
Trước mặt tôi là một căn nhà hai tầng, cửa sắt xếp đã rỉ đỏ, kéo kín. Trên cửa có một tấm bảng gỗ, chữ Hoa sơn vàng đã tróc gần hết.
Khải bước xuống xe. Anh đứng trước cái cửa sắt, đặt bàn tay trái lên một thanh sắt, chậm, như đặt lên vai một người quen. Anh nói một câu tiếng Quảng Đông, rất nhỏ.
Rồi anh quay lại nhìn tôi, và nói bằng tiếng Việt:
"Nhà ngộ."