☾ Truyện Ma Có Thật
← Người chồng sau cơn hôn mê

Chương 4: Tiệm thuốc cuối hẻm

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Mưa nặng hột dần. Tôi dắt xe vô sát mái hiên căn nhà kế bên cho khỏi ướt yên. Khải vẫn đứng trước cái cửa sắt, không trú mưa, tay trái vẫn đặt trên thanh sắt rỉ. Nước mưa chảy từ mái ngói xuống, rớt lộp độp lên vai áo anh. Anh không nhúc nhích.

Căn nhà kế bên có một bà già ngồi trên ghế đẩu ngay cửa, trước mặt là cái xe chè đã đậy nắp. Bà mặc áo bà ba lãnh đen, tóc búi, tay cầm cái quạt nan. Bà nhìn Khải, rồi nhìn tôi.

"Kiếm ai đó cô?"

Tôi nói không kiếm ai, chồng con đi ngang, thấy nhà này quen.

Bà già quạt chậm lại. "Quen hả? Nhà ông Lương đó. Tiệm thuốc. Đóng cửa rồi."

Bà tên Sáu. Bà nói bà bán chè ở hẻm này ba chục năm, ở sát vách ông Lương ba chục năm. Bà nói tiếng Việt rặt giọng Chợ Lớn, câu cuối hay thêm chữ "đó" kéo dài. Chồng bà người Hoa, mất rồi.

* * *

Bà Sáu kể, không cần tôi hỏi nhiều. Người già ngồi một mình trước cửa thì cái gì cũng muốn kể.

Ông Lương là thầy thuốc bắc. Hồi trước tiệm đông lắm, người ta từ Bình Tây, từ Phú Lâm tới hốt thuốc. Ông bắt mạch giỏi, ba ngón tay đặt lên là biết người ta ăn ngủ ra sao. Đàn bà nghèo tới, ông không lấy tiền. Ông có vợ, bà vợ mất hồi ông chưa tới bốn mươi. Từ đó ông ở một mình, không cưới ai nữa, không con.

"Ổng có đứa cháu, con bà chị, ở bên quận Mười Một. Mà một năm nó qua có một lần, Tết," bà Sáu nói. "Mấy năm sau này ổng già, tay run, không bốc thuốc được. Tiệm đóng. Ổng ở trỏng một mình. Chiều chiều ổng ra đứng ở cửa sắt, ngó ra hẻm. Ngó vậy thôi đó."

Tôi hỏi ông mất khi nào.

Bà Sáu nhìn ra màn mưa. "Giữa tháng Tư. Mà không ai biết bữa nào. Mấy bữa liền không thấy ổng ra đứng cửa, tui tưởng ổng đau. Tới bữa thứ ba thì có mùi."

Bà dừng một lúc rồi nói thêm.

"Hẻm này nóng lắm cô. Tháng Tư."

Công an phường cắt khoá cửa sắt. Ông nằm trên tấm phản gỗ ngay dưới tủ thuốc, áo quần chỉnh tề, tay trái đặt lên cổ tay phải. Bà Sáu kể tới đó thì giơ tay lên làm thử. Ba ngón tay giữa đặt sát nhau, đè lên cổ tay.

"Ổng tự bắt mạch cho ổng," bà nói. "Tới lúc chết."

Tôi đứng dưới mái hiên, nghe mưa. Tôi nhìn lưng Khải trước cửa sắt.

Tôi hỏi bà, đêm nào. Đêm nào bà nghĩ ông mất.

Bà Sáu đếm ngón tay, lẩm bẩm tiếng Hoa. "Mười bốn. Mười bốn hay mười lăm. Bữa đó trời oi, tui nghe ổng ho tới khuya rồi thôi. Rồi im."

Đêm mười bốn tháng Tư. Đêm bà Tư đầu hẻm chạy vô đập cửa nhà tôi.

* * *

Mưa ngớt. Khải quay lại, đi về phía xe. Đi ngang bà Sáu, anh dừng, gật đầu chào. Bà Sáu nhìn anh, cái quạt nan trong tay bà ngừng hẳn.

Anh nói với bà một câu tiếng Quảng Đông. Ngắn. Giọng trầm, cuối câu kéo dài.

Bà Sáu không trả lời. Bà nhìn anh chằm chằm. Mặt bà từ từ xám đi, như có ai rút hết máu ra. Tay bà cầm cái quạt run run.

Khải đi tiếp, leo lên yên sau xe, ngồi chờ. Tôi nổ máy. Lúc tôi quay đầu xe, bà Sáu nắm lấy cổ tay tôi. Tay bà khô, lạnh, móng dài.

"Nó nói gì vậy bà?"

Bà Sáu kéo tôi lại gần, nói nhỏ, mắt vẫn nhìn Khải: "Nó nói, chè đậu đen của bà bữa nay nấu dư đường." Bà nuốt nước miếng. "Câu đó ông Lương nói với tui, chiều nào ổng ăn chè cũng nói. Ba chục năm."

Bà buông tay tôi. Bà nói thêm một chuyện, giọng như người nói ra cho nhẹ bụng.

"Từ bữa đưa ổng đi rồi, đêm nào cũng có người giật cái cửa sắt."

Tôi hỏi giật từ ngoài vô?

"Từ trong ra." Bà chỉ vô cái cửa sắt rỉ. "Cửa khoá ngoài. Đứa cháu nó khoá lại, ổ mới. Mà đêm nào tui cũng nghe ở trỏng có người nắm cửa giật."

Bà lắc đầu.

"Rầm. Rầm. Giật mạnh lắm. Như người say về kêu cửa mà không ai mở. Tui thắp nhang ngoài này cho ổng. Tui nói ổng đi đi, ổng yên rồi, ổng đi đi."

Tôi không nói gì. Sau lưng tôi Khải ngồi im trên yên, tay trái đặt trên đùi.

* * *

Tôi chở anh ra khỏi hẻm. Tới đầu hẻm, ngang cái miếu đỏ, tôi ngoái lại nhìn một lần.

Trời đã sụp tối. Hẻm không có đèn đường, chỉ có ánh đèn vàng hắt ra từ mấy cửa nhà. Căn nhà ông Lương đen kịt giữa hai vệt sáng. Bà Sáu đã dọn xe chè vô.

Và cái cửa sắt rung lên.

Tôi thấy nó rung, cả tấm, từ trên xuống dưới, như có ai từ phía trong nắm hai thanh sắt mà giật. Rồi tiếng nó dội tới tôi, chậm hơn cái hình một chút, xa và đục: rầm.

Khải không quay lại. Anh ngồi sau lưng tôi, tôi nghe hơi thở anh đều đều sát gáy. Mùi đương quy từ người anh bay qua vai tôi.

Lẫn trong đó, chỉ một thoáng, tôi ngửi thấy mùi thuốc lá. Mùi khét khét, chát chát của thuốc lá rẻ tiền. Tôi biết mùi đó. Sáu năm tôi giặt nó ra khỏi áo gối.

Rồi gió thổi qua, nó mất.