Chương 3: Chuyện bà Nhỡ kể
Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem
Nhà thứ năm là nhà ông Phó Đản, thợ mộc, ở xóm Bến cạnh nhà ông Mõ. Tôi biết trước, và tối hôm sau tôi đứng sau con trâu nhìn đèn nhà ông Phó tắt mà không thấy lạ nữa. Cái lạ là ở chỗ tôi biết. Tôi chưa dám hỏi mình vì sao.
Ông Bái chết sáng ngày thứ ba.
Bà Bái kể ông ấy ngồi quay mặt vào vách ba ngày hai đêm, không ăn, không nói, không nằm. Sáng ấy bà dậy thấy ông vẫn ngồi, lưng vẫn thẳng, chỉ có đầu gục xuống ngực. Người ông lạnh từ lúc nào. Thầy thuốc xã đến, bảo tim.
Làng kéo nhau đến làm ma, nhà ông Bái đông người mà không có đèn. Người ta thắp nến, thắp đuốc. Nến đặt lên bàn thờ thì cháy. Đèn dầu đem từ nhà khác sang, qua cổng là tắt.
Tôi đến viếng, đứng ở sân, không vào trong. Tôi thấy ông giáo Thuần ở góc sân, ngồi trên ghế đẩu, mắt nhìn vào quan tài. Ông ấy thấy tôi, há miệng định chào. Không có tiếng nào ra. Ông đưa tay lên cổ, bóp bóp, rồi lại há miệng. Vẫn không có tiếng. Ông nhìn tôi, mắt hoảng hốt như trẻ con, rồi quay đi.
Tôi đi về. Qua nhà bà Nhỡ, tôi dừng lại.
* * *
Bà Nhỡ đã ngoài tám mươi, goá từ hồi còn trẻ, ở một mình trong cái nhà ba gian chẳng còn gian nào lành. Mắt bà kém, nhưng tai thính, ai đi qua ngõ cũng gọi đúng tên. Hồi tôi còn bé bà hay cho tôi khoai lùi.
Tôi vào, ngồi xuống bậc hè. Bà ngồi trong nhà tối, cái đèn con để trên bàn không thắp.
"Đèn nhà bà cũng không cháy à."
"Từ hôm kia. Cũng chẳng cần, tôi có nhìn thấy gì nữa đâu mà đèn với đóm."
Bà im một lúc, rồi nói, tự nhiên như tiếp một câu chuyện đang dở:
"Anh Tịch này. Anh cũng thấy nó ngồi ngoài gốc gạo chứ gì."
Tôi không trả lời. Bà cười khẽ, hàm răng đen còn vài cái.
"Nó về đếm đấy. Hồi ấy nó đi hết lượt làng này, gõ cửa từng nhà. Giờ nó về đếm lại xem nhà nào tắt đèn. Nhà nào tắt thì nó nhớ."
Tôi hỏi, bà bảo ai. Tôi biết bà bảo ai. Tôi vẫn hỏi.
"Thằng Khoát chứ ai. Thủ kho hợp tác năm Kỷ Hợi. Ở rể làng này, người bên làng Bùi, lấy con Nhàn nhà ông Khiển. Anh không nhớ à? Nó với anh cày chung một đội cơ mà."
"Tôi nhớ. Cày chung mấy vụ. Năm ấy tôi đi dân công đắp đê Đuống trên Thuận Thành, về thì việc đã xong rồi, chỉ nghe kể."
Bà Nhỡ gật gật, không nói gì vào đấy, kể tiếp. Năm ấy hợp tác xã mới lập, thóc giống để trong đình, Khoát giữ chìa khoá. Đến vụ chiêm mở kho thấy hụt hai chục cân. Ông Bái đội trưởng bảo chìa khoá chỉ có một, hụt thì người giữ chìa khoá chịu. Người ta bảo Khoát bán thóc ngoài chợ Nội. Khoát bảo không. Định tối hôm sau họp đội kiểm điểm.
"Tối hôm trước, nó đi khắp làng. Đến nhà nào cũng gõ cửa, cũng nói một câu, tôi không lấy, bác nói giúp tôi một tiếng với. Nhà nào nghe tiếng nó ở cổng cũng tắt đèn. Tôi cũng tắt. Hồi ấy ai dám dính vào thóc hợp tác."
Bà ngừng, lấy ống tay áo quệt mắt, không biết vì khóc hay vì mắt bà hay chảy nước.
"Nó đi tám nhà. Sáng ra thấy nó trên cành gạo."
"Bảy."
Tôi buột miệng. Bà Nhỡ quay đầu về phía tôi. Mắt bà đục, không nhìn thấy, nhưng bà quay đúng vào mặt tôi.
"Tám chứ. Tôi đếm mà. Đêm ấy tôi nằm nghe tiếng guốc nó đi, nhà nào nó cũng đứng gõ, cũng nói. Tôi đếm được tám lần nó nói. Nhà cuối cùng nó đứng lâu nhất."
Tôi đứng dậy. Tôi bảo bà nghỉ, mai tôi sang chẻ củi cho. Bà gật, rồi khi tôi ra đến cổng, bà nói với theo, giọng không to không nhỏ:
"Nó đếm đến nhà nào thì nhà ấy trả nợ. Nhà anh nó chưa đếm. Anh mừng à?"
* * *
Tôi không đi làm đồng nữa chiều ấy. Tôi ngồi ở hiên nhà, chẻ củi, chẻ cho đến khi củi vụn như tăm. Thắm đứng ở cửa bếp nhìn tôi rất lâu.
Trước lúc trời tối, tôi vào nhà, lấy cái đèn Hoa Kỳ ra lau bóng. Tay tôi lau đi lau lại cái bóng đã trong veo, và tôi chợt nhận ra mình đang làm đúng việc bà Bái làm sáng hôm trước.
Tôi đặt đèn xuống. Tôi không ra gốc gạo tối ấy. Tôi ở nhà, châm đèn từ lúc còn nhá nhem, vặn bấc to hết cỡ, để Thắm xót ruột đến mấy cũng mặc.
Khoảng chập tối, con Mộng trong chuồng rống lên một tiếng dài, rồi im. Tôi ra sân nhìn về phía xóm Bến. Nhà bà Tám hàng xáo, nhà thứ sáu, vừa tối đèn.
Tôi không cần ra gốc gạo để biết. Tôi đếm được ở nhà rồi.