Chương 5: Ngồi vào chỗ người ấy
Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem
Hôm sau tôi không ra đồng. Tôi bảo Thắm trâu mỏi, cho nghỉ một hôm. Thắm nhìn con Mộng đang nhai rơm phởn phơ trong chuồng, không nói gì.
Tôi ngủ một giấc trưa dài. Giấc ngủ không có mộng mị, chỉ nặng, như có ai ngồi lên ngực. Tỉnh dậy đã ba giờ chiều, nắng đã nghiêng. Tôi ăn một bát cơm nguội, rồi bảo Thắm tôi ra đầu làng.
"Ra đấy làm gì."
"Ra ngồi."
Thắm đặt bát xuống. Tay Thắm run, bát va vào mâm kêu một tiếng.
"Ông đừng ra. Nhà mình nó chưa đếm. Ông ra đấy ngồi là ông mời nó đếm."
Tôi không trả lời. Tôi đi.
* * *
Tôi ra gốc gạo lúc mặt trời còn cách luỹ tre một con sào. Trẻ con chăn trâu vừa dồn trâu về, cu Tèo thấy tôi, gọi ông Tịch ơi ông ra đây làm gì, rồi chạy mất. Đồng Mả Vòng vắng, chỉ còn mấy con cò muộn đứng rỉa cánh trên bờ ruộng cày dở của tôi. Gió từ phía đê thổi vào, mang mùi nước sông và mùi lá tre mục.
Cái hõm rễ nằm ở phía gốc quay vào làng. Tôi đứng nhìn nó một lúc. Rơm trong hõm ướt, xẹp xuống thành hình một người ngồi. Tôi gạt rơm ra, ngồi vào.
Rễ gạo lạnh, lạnh hơn đất. Tôi dựa lưng vào gốc, cảm thấy vỏ cây gồ ghề qua lớp áo bông. Từ chỗ này, cả làng Ngòi bày ra trước mặt như một cái mâm.
Xóm Bến bên trái, sát ao. Xóm Giữa trước mặt, cây mít nhà ông Bái, cây si giếng làng, mái đình. Xóm Trên bên phải, kéo dài đến luỹ tre, và cuối luỹ tre là nhà tôi. Tôi nhận ra người ngồi đây nhìn thấy hết. Không nhà nào giấu được một ngọn đèn.
Mặt trời xuống. Luỹ tre xóm Bến đen lại. Trời chuyển từ vàng sang tím, rồi xám. Đồng hết tiếng cò. Trong làng có tiếng gọi nhau, tiếng gầu va thành giếng, tiếng chó. Rồi những tiếng ấy thưa dần.
Ngọn đèn đầu tiên lên ở nhà cô Lụa xóm Giữa. Rồi nhà ông Mõ, hôm nay có đèn, chắc mượn được ở đâu. Rồi nhà tôi, Thắm thắp sớm, vặn to. Tôi đếm được mười bốn ngọn đèn.
Tay phải tôi giơ lên.
Tôi không định giơ. Tôi thấy nó giơ. Ngang vai, ngón trỏ duỗi ra, chỉ về phía cây mít nhà ông Bái. Nhà ông Bái tối. Môi tôi mấp máy. Một.
Tôi muốn hạ tay. Tay không hạ. Nó dịch sang trái, đến chỗ nhà bà Nhỡ, cũng tối. Hai. Nhà ông giáo. Ba. Ngón tay đi thẳng, không lưỡng lự, từ nhà này sang nhà kia, đúng đường, đường tôi biết.
Nhà ông Mõ, có đèn. Bốn. Đèn tắt. Tiếng chó nhà ấy đang sủa im bặt.
Tôi nghe tiếng mình đếm. Không phải tiếng thì thầm. Tiếng rõ, khàn, giọng của người mới khóc xong. Năm. Sáu. Bảy.
Nhà cụ Khản tối. Ngón tay dừng.
Rồi nó dịch sang phải. Về phía xóm Trên. Về phía luỹ tre. Về phía ngọn đèn sáng nhất làng, ngọn đèn Thắm thắp cho tôi.
Môi tôi mở ra. Tôi thấy lưỡi mình đặt lên răng, chuẩn bị cho một tiếng bắt đầu bằng chữ t. Tôi không cho nó ra. Tôi cắn lưỡi. Mùi máu mặn trong miệng.
Có tiếng nói bên tai tôi. Sát tai, như người ngồi chung một cái hõm.
"Bảy."
Giọng khàn, trầm, kéo dài chữ cuối. Giọng của người đứng ngoài cổng gọi tên người ở trong nhà mà không muốn hàng xóm nghe thấy.
Tôi quay đầu.
Người ấy ngồi cạnh tôi. Vai chạm vai. Cái hõm rễ chỉ vừa một người, vậy mà có hai người ngồi. Tôi không nhìn thấy mặt, trời đã tối hẳn, chỉ thấy một mảng đen đậm hơn vỏ cây.
Mùi rơm ướt xộc vào mũi. Và tôi thấy trên cổ tay phải của mình, cái tay đang giơ, có một bàn tay khác đặt lên. Lạnh. Năm ngón, mà ngón trỏ ngắn.
Bàn tay ấy không bóp. Chỉ đặt. Như giữ cho tay tôi khỏi hạ xuống.
Tôi giật tay ra. Tôi không nhớ mình đứng dậy thế nào. Tôi chỉ nhớ mình chạy, chạy trên con đường đất về làng mà không nhìn đường, qua nhà ông Bái, qua giếng, qua đình, không ai ở ngoài đường, cả làng đóng cửa. Tôi chạy đến ngõ nhà mình thì ngã, đầu gối toạc da.
Thắm ra đỡ tôi vào. Thắm sờ lưng tôi, rụt tay lại.
"Ông ngồi ở đâu về mà ướt hết lưng thế này?"
Tôi nhìn ra sân. Trời không mưa đã hai mươi ngày.
Và tôi nhận ra, suốt từ lúc ngồi xuống cái hõm ấy đến lúc chạy, tôi chưa từng nghe thấy tiếng người ấy đến. Người ấy không đến. Người ấy ở đấy từ đầu. Tôi đã ngồi vào lòng người ấy mà không biết.