Chương 6: Tiếng guốc xuôi xóm Trên
Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem
Đêm ấy nhà cụ Lý Khản không có đèn, và sáng ra người ta thấy cụ ngồi ở gốc gạo.
Cụ Khản tám mươi ba tuổi, hồi Pháp làm lý trưởng làng Ngòi, sau này thôi, sống âm thầm với đứa cháu gái. Hai chân cụ bại đã ba năm, đi phải có người dìu. Vậy mà sáng ấy đứa cháu dậy không thấy cụ trên giường. Nó chạy khắp xóm, rồi có người từ đồng về bảo cụ ngoài gốc gạo.
Tôi ra. Cụ Khản ngồi trong cái hõm rễ, đúng chỗ tôi ngồi chiều qua, lưng dựa gốc, mặt quay vào làng. Quần áo cụ ướt sương, tóc bết. Cụ không nhìn ai. Cụ nhìn vào làng, và tay phải cụ giơ lên, ngón trỏ duỗi ra, run run chỉ về phía nhà ông Bái.
Người ta khiêng cụ về. Cụ không chống cự, nhưng tay cụ không hạ xuống. Về đến nhà, đặt lên giường rồi, tay cụ vẫn giơ. Cháu gái cụ khóc, kéo tay cụ xuống, buông ra là tay lại giơ lên.
Trưa tôi sang. Cụ nằm, mắt mở, tay giơ. Thấy tôi, cụ quay đầu. Mắt cụ tỉnh. Cụ nói, tiếng thều thào nhưng rõ từng chữ:
"Anh Tịch. Anh ngồi xuống đây."
Tôi ngồi xuống mép giường. Cụ nói, mắt nhìn trần nhà, tay vẫn giơ.
"Đêm ấy nó đến nhà tôi thứ bảy. Tôi nghe tiếng guốc nó ngoài cổng, nghe nó gọi. Cụ Lý ơi, cháu không lấy, cụ là người biết lẽ phải trong làng, cụ nói cho cháu một câu. Tôi mở cửa ra một khe. Tôi nhìn thấy mặt nó. Rồi tôi đóng cửa, tắt đèn."
Cụ thở một hơi dài.
"Nó đứng ở cổng tôi một lúc rồi nói, cháu chỉ cần một người nói thật. Nó nói chìa khoá kho hồi ấy nó có cho một người mượn một lần, nhưng nó không nói là ai. Nó bảo người ấy biết, người ấy sẽ nói. Rồi nó đi. Tôi nghe tiếng guốc nó đi xuôi xóm Trên. Xóm Trên đi hết thì còn nhà ai nữa, anh biết rồi đấy."
Tôi nói, nhà tôi hồi ấy khoá cửa, tôi đi vắng.
Cụ Khản không cãi. Cụ nhắm mắt lại, một lúc sau mới nói, giọng đã mệt:
"Thế thì nó đứng nói chuyện với cái khoá. Lâu lắm. Tôi nằm nghe, không ngủ được, đến gần sáng mới nghe tiếng guốc nó đi ngược ra đầu làng. Đi chậm. Rồi không nghe gì nữa."
Tôi đứng dậy. Cụ gọi với:
"Anh Tịch. Đêm qua tôi ngồi ngoài ấy, tôi đếm được bảy. Tôi không đếm được nhà thứ tám. Nó không cho tôi đếm. Nó bảo nhà ấy phải tự đếm."
* * *
Tôi về nhà, Thắm đang đong thóc vào bao. Hai bao, mỗi bao chừng hai chục cân. Tôi hỏi làm gì. Thắm nói, đổi dầu. Dầu phiếu hết rồi, dầu chợ đen một lít bằng năm cân thóc, muốn đốt đèn thâu đêm như ông thì phải thế.
Tôi nhìn hai bao thóc. Hai chục cân một bao. Tôi phải vịn vào cột.
"Ông làm sao thế."
"Không. Bà cứ đi đổi."
Thắm đi. Tôi ngồi ở hiên nhìn ra sân. Đèn nhà tôi mấy đêm nay vẫn cháy, nhưng cháy khác. Ngọn lửa không vàng nữa, mà hơi xanh ở chân, và cứ nửa đêm lại lụi một cái như có ai thổi, rồi lại bùng lên. Thắm bảo tại dầu chợ đen pha nước. Tôi để Thắm bảo thế.
Làng mấy hôm nay vắng hẳn. Nhà ông Mõ Cả đã đưa cả vợ con sang ở nhờ bên ngoại làng Bùi, bảo ở đây không ai ngủ được, trẻ con đêm nào cũng giật mình khóc. Ông giáo Thuần vẫn câm. Ông ấy đi ra đi vào, cầm cục phấn viết lên cánh cửa, viết rồi xoá. Tôi đi qua một lần, thấy trên cửa có ba chữ, tôi cũng tắt.
Người ta bắt đầu bàn chuyện chặt cây gạo. Chủ nhiệm hợp tác xã bảo cây gạo là của tập thể, muốn chặt phải họp. Mà họp thì ai dám đứng lên nói chặt.
* * *
Chiều ấy tôi không ra đầu làng, nhưng tôi đứng ở đầu ngõ, chỗ nhìn được một khoảng xóm Giữa. Làng lên đèn. Tôi đếm. Tôi không giơ tay, tôi đút hai tay vào túi áo bông, nhưng môi tôi vẫn mấp máy. Nhà cô Lụa, nhà ông Khiển, nhà bà Mùi.
Những nhà không ở trong bảy nhà ấy, đèn vẫn sáng bình thường. Không ai đếm đến họ. Họ sáng đèn, ăn cơm, cãi nhau, ru con. Làng Ngòi vẫn là làng Ngòi.
Chỉ có bảy nhà tối. Và một nhà sáng quá mức.
Tôi quay vào. Thắm vừa đổi dầu về, đang rót vào đèn. Dầu chảy, ngọn lửa bùng lên, rồi lụi xuống một cái, rồi lại lên.
Khuya, cháu gái cụ Khản sang gọi cổng. Cụ mất rồi. Nó bảo lúc tắt thở tay cụ mới chịu hạ xuống, mà hạ rất chậm, như có ai đỡ.