Chương 7: Người con trai trở về
Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem
Khánh về làng vào một chiều mưa phùn, ba hôm sau đám cụ Khản.
Tôi nhận ra anh ta từ xa, dù chỉ nhìn thấy một lần qua kẽ phên chuồng trâu. Áo bộ đội bạc, mũ cối, xe đạp Thống Nhất dựng ở cổng, sau xe buộc một cái ba lô. Anh ta hỏi đường vào nhà tôi, và lần này tôi không ra chuồng trâu. Tôi ngồi ở hiên. Tôi đợi.
Anh ta hai mươi tám tuổi, người tầm thước, mặt vuông, hai gò má cao, đúng mặt bố. Nhưng mắt là mắt của Nhàn, to và buồn. Anh ta chào, xưng cháu, rồi đứng ở sân không biết ngồi đâu. Thắm bưng nước ra, kéo ghế. Thắm không nhìn tôi.
"Cháu lên Thái Nguyên với mẹ từ năm lên bốn, bác ạ. Mẹ cháu không bao giờ về làng. Mẹ bảo làng này tắt đèn với bố cháu thì mẹ không về."
Tôi gật đầu.
"Tháng Mười cháu về bốc mộ bố, định đưa lên trên ấy cho gần mẹ. Mẹ cháu lúc ấy ốm rồi. Đưa xương bố về đến nơi được hai tháng thì mẹ mất."
Anh ta ngừng, nhìn ra sân mưa.
"Trước lúc mất mẹ cháu dặn hai việc. Việc thứ nhất là đem tiểu bố cháu về chôn lại ở gốc gạo. Mẹ bảo bố cháu không đi được. Mẹ bảo đêm nào mẹ cũng mơ thấy bố ngồi ở gốc gạo, chưa xong việc. Cháu đem về rồi, hôm nay chôn lại rồi. Lấp đất kỹ hơn lần trước."
"Việc thứ hai."
"Việc thứ hai là tìm bác. Mẹ cháu bảo, về làng Ngòi hỏi bác Tịch ở cuối xóm Trên. Bố cháu đêm ấy đứng ở cổng nhà bác lâu nhất. Mẹ cháu đi theo bố cháu suốt đêm ấy, cách một đoạn, bố không biết. Mẹ đứng ở gốc duối đầu ngõ nhà bác, đứng đến gần sáng."
Thắm đánh rơi cái phích. Phích không vỡ, chỉ lăn ra sân, nước nóng tràn ra khói bốc lên trong mưa. Thắm cúi nhặt, rất lâu.
Tôi hỏi, mẹ anh bảo tìm tôi để làm gì.
"Mẹ cháu bảo bác biết. Mẹ bảo mẹ không nghe được bố nói gì với bác, chỉ nghe tiếng bố, không nghe tiếng bác. Nhưng mẹ bảo bố cháu đứng lâu như thế là vì bố đợi. Bố không đợi nhà nào lâu như thế."
"Tôi không có nhà đêm ấy. Tôi đi dân công đắp đê trên Thuận Thành. Về thì việc đã xong."
Khánh nhìn tôi. Rồi anh ta nhìn Thắm. Thắm đang đứng ở cửa bếp, lưng quay ra, hai vai co lại.
"Bác gái. Đêm ấy bác gái có nhà không ạ."
Thắm không quay lại. Thắm nói vào trong bếp, giọng nhỏ, nhưng sân mưa lặng, nghe rõ từng chữ:
"Có. Tôi mới về làm dâu được một năm."
"Thế bác gái có nghe bố cháu gọi không."
Thắm im một lúc lâu. Rồi Thắm nói:
"Ông ấy đã tắt đèn một lần rồi. Giờ ông ấy đốt đèn cả đêm cũng không thắp lại được."
Rồi Thắm đi vào bếp, kéo cửa liếp.
Khánh không hỏi nữa. Anh ta ngồi uống hết chén nước, đứng dậy, chào. Ra đến cổng, anh ta quay lại:
"Cháu xin ngủ nhờ ở đình đêm nay. Mai cháu về. Bác có gì nói với bố cháu thì ra đấy, cháu gần ngay gốc gạo."
* * *
Tối ấy tôi không ăn. Thắm cũng không dọn. Hai vợ chồng ngồi hai góc nhà, ngọn đèn ở giữa, lửa xanh ở chân, lụi rồi lại lên.
Tôi hỏi Thắm, sao bà nói thế với nó.
Thắm không trả lời ngay. Thắm cầm cái kim, xỏ chỉ, xỏ mãi không vào.
"Hai mươi sáu năm tôi nằm cạnh ông. Đêm nào ông cũng ngủ nghiêng về phía cửa, tay để lên ngực như giữ cái gì. Tôi biết ông giữ cái gì. Tôi không hỏi, vì ông là chồng tôi. Nhưng con người ta đến tận nhà hỏi thì tôi không nói dối được nữa."
"Bà biết gì."
"Tôi biết đêm ấy ông có nhà. Tôi biết ông ngồi ở phản, tay để trên cái đèn. Tôi biết lúc ngoài cổng gọi, ông thổi. Còn ông nói gì với người ta, ông có nói hay không, tôi không biết. Tôi nằm trong buồng, tôi trùm chăn."
Thắm xỏ được chỉ. Thắm cúi xuống khâu, và tôi thấy nước rơi xuống mảnh vải.
"Ông ạ. Người ta đã về chôn lại rồi. Người ta đợi ở gốc gạo hai mươi sáu năm, đếm đi đếm lại bảy nhà. Bảy nhà ấy trả cả rồi. Ông định để người ta đợi đến bao giờ."
Tôi không trả lời. Tôi nhìn ngọn đèn.
Ngọn đèn lụi một cái. Lần này không lên lại ngay. Nó co lại thành một hạt đỏ ở đầu bấc, bé bằng hạt vừng, run rẩy mãi, rồi mới từ từ bùng lên. Trong khoảng tối ngắn ấy, tôi nghe rõ ngoài ngõ có tiếng guốc.
Guốc mộc. Gõ trên đường đất khô. Đi chậm. Đi về phía cổng nhà tôi.