Chương 3: Gấu váy ướt mùa khô
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Năm ấy công trình chạy nước rút để kịp ngăn sông trước mùa mưa. Ông Quế nói ai về Tết thì khỏi lên nữa, tiền ứng phải trả ngay. Tết Đinh Hợi tôi ở lại lán, ăn bánh chưng của đoàn thợ Thanh Hóa gói, uống rượu sắn với thằng Pảo, nằm nghe gió khô mùa nắng thổi rát mái tôn.
Thư nhà vẫn chữ Thơm. Mỗi lá chỉ mấy dòng, cuối thư bao giờ cũng có một câu giống nhau, mẻ dặn anh gửi thêm tiền, mẻ cần. Tôi gửi. Có tháng tôi nhịn cả thuốc lào. Tôi chưa từng hỏi mẹ cần vào việc gì. Ở bản tôi, con trai không hỏi mẹ chuyện tiền.
Một lần tôi viết thư riêng cho Hoan, dặn Thơm đưa tận tay. Lá thư trả lời vẫn là chữ Thơm. Chị Hoan đọc rồi, chị bảo anh giữ sức khỏe, đừng uống rượu nhiều. Tôi gấp lá thư lại, nhét vào túi áo ngực, và tự nhủ đàn bà ở nhà làm lụng cả ngày, cầm bút đâu dễ.
Trong lán tôi có anh Hùng, người Nông Cống, Thanh Hóa, hơn tôi chục tuổi, đeo một sợi dây bạc ở cổ. Một tối tôi kể chuyện chiếc vòng của Hoan mờ đi. Anh Hùng gỡ sợi dây của anh ra cho tôi xem. Dây sáng trắng, mồ hôi người đánh bóng.
"Bạc đeo trên người sống thì nó sáng. Bạc mà đen, ở quê anh người ta bảo là trúng gió độc, hoặc là nằm chỗ âm. Chú về bảo vợ đánh bằng tro bếp với chanh."
Tôi cười, nói vợ tôi làm nương, ngày nào chẳng bùn đất.
Mùa gặt năm 2007, công trình xong một hạng mục, ông Quế cho về mười ngày. Tôi về đến bến suối lúc chiều. Tháng Mười trên núi khô ráo, trời cao, lúa ruộng bậc thang vàng từng tầng, đã gặt được nửa. Con suối cạn trơ đá, tôi lội không ướt đến mắt cá.
Đầu dốc, mùi nứa cháy. Hoan đứng sau thanh chắn, áo chàm, đuốc trên tay.
Cô gầy hơn năm trước. Không, không phải gầy. Da cô như mỏng đi, ánh lửa đuốc xuyên qua được, thấy cả mạch xanh dưới gò má. Cô rút thanh chắn cho tôi vào. Tôi cầm tay cô, cúi nhìn chiếc vòng.
Chiếc vòng đã xám hẳn. Màu xám của nồi gang lâu không cọ. Mấy đường chạm hoa mạ bị lấp đầy một lớp đen, sờ vào thấy ram ráp như rêu khô. Tôi xoa ngón cái lên, lớp đen không trôi.
"Để anh đánh lại cho em. Anh Hùng bảo lấy tro với chanh."
Hoan rút tay về, nhanh như bị bỏng. Cô giấu cổ tay vào trong ống tay áo.
"Thôi anh. Để đấy."
Tôi nhìn xuống chân cô. Gấu váy chàm ướt sũng, sẫm lại thành một vệt dày cỡ bàn tay, dính bùn và mấy hạt cát trắng. Nước từ gấu váy nhỏ xuống bậc đá dưới chân cô, thành một vũng nhỏ. Cả bản đã gần một tháng không mưa. Con suối dưới kia cạn đến mức trẻ con bắt cá bằng tay.
Tôi hỏi cô lội đâu mà ướt. Cô bảo em ra suối giặt. Tôi không hỏi thêm. Trong lòng tôi có gì đó lạnh đi, mà tôi không biết gọi tên.
Mùa gặt ai cũng bận. Sáng hôm sau tôi dậy, chỗ Hoan nằm đã trống. Mẹ đã lên ruộng từ sớm, Thơm đi học dưới huyện chưa về. Tôi mài liềm, đeo gùi, lên ruộng nhà tôi ở tầng thứ ba từ chân núi. Mẹ đang gặt một mình. Tôi hỏi Hoan đâu. Mẹ chỉ tay lên phía trên.
"Nó gặt mảnh trên kia."
Mảnh ruộng trên kia gặt xong từ hôm nào. Rơm phơi thành từng đống, gốc rạ đã khô. Không có ai.
Người bản gặt ở các mảnh quanh đó. Bà Slao gặt ngay tầng dưới. Bà ngẩng lên thấy tôi đứng trên bờ ruộng nhìn quanh, bà nhìn tôi rất lâu. Rồi bà cúi xuống gặt tiếp, miệng lẩm bẩm câu gì bằng tiếng Tày cổ, tôi chỉ nghe được hai chữ: tội nó.
Tôi gặt với mẹ đến trưa. Mẹ không nói gì. Đến lúc nghỉ ăn cơm nắm, mẹ ngồi quay lưng về phía tôi, ăn rất chậm.
Sáng hôm thứ tư tôi dậy sớm hơn thường lệ, vì khát nước. Trời còn tối. Tôi nghe tiếng thanh chắn cổng kẽo kẹt. Tôi nhìn qua khe vách. Mẹ tôi, đầu quấn khăn, lưng đeo gùi, ra cổng, cài lại thanh chắn rồi đi về phía đường mòn lên đèo. Đường ấy chỉ dẫn sang một nơi: Khuổi Khon.
Mẹ về lúc chiều tối, gùi rỗng. Tôi hỏi mẹ đi đâu. Mẹ bảo đi trả nợ.
Đêm ấy tôi tỉnh dậy vì một tiếng khóc.
Tiếng trẻ con khóc. Không phải trẻ lớn. Tiếng của đứa còn đỏ hỏn, khóc ngằn ngặt, hụt hơi rồi lại khóc, như tiếng mèo con. Nó vọng từ phía ngoài vào. Từ phía cổng.
Bên cạnh tôi trống. Chiếu lạnh.
Tôi ra cửa, không dám bật đèn pin. Đêm tháng Mười không trăng, sương chưa xuống, sao dày như vãi trấu. Côn trùng quanh nhà im bặt. Cả bản không một tiếng chó.
Hoan đứng ở cổng, quay lưng vào nhà. Đuốc cắm ở khe đá cạnh cô, lửa leo lét, đã gần tàn. Cô hơi cúi đầu, hai tay ôm vòng trước ngực, đung đưa người sang hai bên rất chậm, như ru một đứa bé.
Trong vòng tay cô không có gì cả.
Tiếng khóc đã tắt. Tôi chỉ còn nghe giọng cô hát, khe khẽ, câu ru Tày mà bà nội tôi ngày xưa vẫn hát cho tôi: ơ noọng nòn, ơ noọng nòn. Mỗi câu ru, cô lại quay mặt ra phía ngoài ngõ, nhìn xuống con dốc tối, như chờ ai đi lên.