Chương 7: Đứa bé bên Khuổi Khon
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Đường sang Khuổi Khon là một lối mòn vắt qua lưng đèo, hai bên toàn đá tai mèo và rừng nghiến. Mùng tám năm ấy tôi đi một mình, không mang lễ, chỉ có chiếc vòng cong trong túi áo.
Tôi đã nghĩ suốt đêm. Đêm ở cổng, tôi tự bảo mình say. Rượu hội lồng tồng là rượu ngô men lá, uống quá ba bát là người ta nhìn thấy đủ thứ. Đất trong móng tay là đất ụ đá, tôi ngã vào đó. Vết đứt là đá cuội sắc cạnh. Tôi nghĩ như thế, nghĩ nhiều lần cho đến khi gần như tin.
Còn những thứ khác thì tôi xếp lại được, từng thứ một. Đôi vòng trẻ con. Lá thư tháng Sáu với dòng chữ gạch xóa. Câu con Sim nói dở. Tiếng trẻ con khóc ngoài cổng, và Hoan đung đưa hai tay không. Chiếc vòng bị bẻ nhỏ vừa cổ tay một đứa bé.
Hoan đã có con. Con của tôi. Và người ta đã đem đứa bé đi đâu đó.
Đến đầu bản Khuổi Khon thì quá trưa. Nhà ngoại là căn nhà sàn thứ ba từ con suối lên, mái lợp ngói máng, cầu thang đá. Nhà vắng. Trên bậc cầu thang có một đứa bé gái ngồi chơi với mấy hòn sỏi.
Con bé chừng ba bốn tuổi. Áo chàm cũ may lại từ áo người lớn, ống tay xắn mấy vòng. Tóc cắt ngắn ngang tai. Nó ngẩng lên nhìn tôi.
Tôi đứng sững ở chân cầu thang.
Đôi mắt ấy. Hai con mắt dài, đuôi hơi xếch, như hai lá trúc. Tôi đã nhìn đôi mắt ấy qua khe thanh chắn suốt bốn năm nay.
"Cháu tên là gì?"
Con bé không trả lời ngay. Nó nhìn tôi một lúc rồi bất ngờ cười, lấy ống tay áo che miệng lại. Đúng cái cách ấy. Đúng cái cách người con gái ném còn trượt ba lần đã cười với tôi ở bãi lồng tồng.
"Lìn," nó nói qua ống tay áo.
Trên cổ tay trái con bé có một chiếc vòng bạc nhỏ, sáng trắng, cỡ miệng chén uống rượu.
Tôi ngồi xuống bậc thang dưới cùng, ngang tầm mắt nó. Tôi không biết nói gì. Tôi lấy chiếc vòng cong trong túi áo ra, gỡ khăn tay. Con bé nhìn chiếc vòng, rồi nhìn vòng trên tay mình, rồi giơ cổ tay ra trước mặt tôi như muốn so.
Có tiếng chân trên lối đá. Mẹ Hoan đi nương về, lưng đeo gùi sắn, tay cầm dao quắm. Bà già đi nhiều quá. Ngày cưới bà còn tóc đen, giờ tóc bạc gần hết, hai má hóp lại. Bà nhìn thấy tôi, gùi sắn tuột khỏi vai, lăn mấy củ xuống bậc đá.
Bà bước đến, giằng con bé ra khỏi chỗ tôi, kéo nó ra sau lưng.
"Mày sang đây làm gì?"
Tôi đứng lên, chào bà, gọi bà là mẻ như ngày cưới. Tôi nói con sang chúc Tết. Tôi nói con muốn hỏi chuyện con bé.
"Mẻ mày chưa nói với mày à?"
"Nói gì hả mẻ?"
Mẹ Hoan nhìn tôi rất lâu. Ánh mắt bà làm tôi nhớ đến bà Slao ở bờ ruộng, chỉ có điều trong ánh mắt bà không có thương hại. Chỉ có một nỗi giận cũ, đã nguội, nguội đến thành đá.
"Về hỏi mẻ mày. Bao giờ mẻ mày dám nói thật với mày thì mày hẵng sang đây."
Tôi hỏi bà Hoan thế nào, Hoan có nói gì với bà không, sao bà không cho Hoan sang thăm con. Bà nghe đến đó thì cười. Tiếng cười khô khốc, ngắn, như cành củi gãy.
"Con Hoan ấy à? Con Hoan nó ở bên nhà mày. Nó ở bên ấy bốn năm nay rồi. Mày hỏi tao làm gì."
Bà bế con bé lên cầu thang, đóng sập cửa sàn. Qua khe vách, tôi nghe con bé hỏi bằng tiếng Tày, chú kia là ai hả bà. Không ai trả lời nó.
Tôi về đến Nà Mạ khi trời đã tối hẳn. Đầu dốc không có mùi nứa cháy. Cổng không có ai. Tôi rút thanh chắn, vào, cài lại.
Mẹ đang ngồi bên bếp. Tôi đứng ở cửa bếp, không ngồi xuống.
"Con Lìn bên Khuổi Khon là con con phải không mẻ?"
Mẹ không ngẩng lên. Một lúc rất lâu mẹ mới gật đầu.
"Sao mẻ giấu con? Sao để nhà ngoại nuôi? Hoan nó có lỗi gì mà mẻ bắt nó xa con?"
Mẹ ngẩng lên nhìn tôi. Mắt mẹ ráo hoảnh. Mẹ mở miệng, rồi lại ngậm lại. Đến khi nói được, mẹ chỉ nói một câu.
"Mày làm cho hết ba năm này đi. Làm xong, về hẳn, mẻ nói cho mày tất."
Tôi đã có thể bắt mẹ nói ngay đêm ấy. Tôi không làm thế. Tôi bảo mình rằng nhà nghèo, mẹ sợ thêm miệng ăn, nhà ngoại giữ con làm tin vì món nợ cưới. Tôi bảo mình rằng làm đủ tiền rồi về, đón con về, Hoan sẽ hết đứng ở cổng.
Ra Giêng tôi đi. Sáng ấy cổng không có ai, không có đuốc.
Tháng Mười năm 2010, mũi hầm phía hạ lưu sập. Tôi bị vùi trong đó sáu tiếng cùng anh Hùng và hai người nữa. Trời tối đặc, đất lạnh, nước rỉ từ vách đá xuống ngang ngực. Có lúc tôi ngửi thấy mùi nứa cháy. Có lúc tôi thấy một đốm lửa đứng yên rất xa, ở cuối đường hầm, nơi không thể có lửa. Có tiếng ai nói, nhỏ, sát tai, tôi không chắc là anh Hùng.
"Anh về đi."
Người ta đào được chúng tôi ra lúc gần sáng. Anh Hùng chết. Tôi gãy hai xương sườn, nằm viện tỉnh một tháng.
Tháng Tám năm 2011, hợp đồng còn hơn một tháng. Ông Quế cho tôi thôi sớm vì tay tôi không còn khoan được. Tôi không viết thư báo nhà. Tôi muốn về bất ngờ, mang theo hai bộ áo chàm mới, một cho Hoan, một nhỏ xíu cho con bé.
Ô tô đến bến suối lúc gần trưa. Nắng tháng Tám chói chang, suối Khuổi Mạ vừa qua một trận lũ, nước còn đục ngầu. Tôi leo dốc. Gần đến đầu dốc, tôi không ngửi thấy mùi nứa cháy.
Tôi ngửi thấy mùi hương trầm, mùi xôi, và nghe tiếng chuông cúng của thầy tào.