Chương 1: Ngôi nhà khóa sáu năm
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi làm thẩm định tài sản bảo đảm cho chi nhánh Nam Định của một ngân hàng thương mại được bảy năm. Nói cho dễ hiểu, việc của tôi là đi xem nhà người ta đem thế chấp, đo đạc, chụp ảnh, hỏi giá đất quanh đó. Rồi tôi viết một bản báo cáo, căn nhà ấy đáng bao nhiêu tiền. Ngân hàng cho vay theo con số tôi viết. Viết cao thì người vay mừng, viết thấp thì cán bộ tín dụng lườm tôi cả tuần.
Cuối tháng Mười một năm 2020, đợt gió mùa đầu tiên tràn về. Chị Loan bên phòng khách hàng đặt lên bàn tôi một tập hồ sơ, gõ gõ ngón tay lên bìa.
"Em đi giúp chị cái này trong tuần nhé. Khách quen, cần giải ngân trước Tết."
Người vay là Lương Văn Cường, bốn mươi hai tuổi, thợ nhôm kính ở Lộc Hạ. Xin vay chín trăm triệu, thế chấp một căn nhà ống ở phố Hàng Tiện, gần chợ Rồng. Mặt tiền ba mét hai, sâu mười tám mét, hai tầng. Sổ đỏ đứng tên Cường, cấp năm 2016, nguồn gốc nhận thừa kế của bố. Bên lề, chị Loan ghi một dòng bút chì: nhà bỏ không từ 2014.
Tôi hỏi nhà mặt phố sao lại bỏ không sáu năm. Chị Loan nhún vai, bảo người ta có tiền thì người ta để, việc gì mình hỏi.
Chiều thứ Năm, tôi đến. Phố Hàng Tiện hẹp, hai bên toàn nhà ống cũ, ban công sắt hoen gỉ, dây điện chằng chịt. Căn nhà kẹp giữa một hiệu cắt tóc và một nhà bán hàng mã. Cửa xếp sơn xanh đã bong thành từng mảng, ổ khóa to bằng nắm tay quấn thêm một vòng xích. Trên bậc cửa, lá bàng khô và túi ni lông dồn thành đống.
Cường đứng đợi sẵn, mặc áo bông cũ, tay đút túi. Người gầy, da sạm, móng tay cái dày và vàng. Anh ta mở khóa mất một lúc lâu vì ổ gỉ, rồi kéo cửa xếp sang một bên, sắt rít lên một hồi dài.
"Anh vào xem đi. Tôi đứng đây làm điếu thuốc."
Tôi tưởng anh ta khách sáo. Nhưng suốt buổi hôm ấy, Cường không bước qua bậc cửa một lần nào.
Gian ngoài tối và lạnh, mùi ẩm mốc xộc lên. Bụi phủ dày trên cái tủ thờ kê sát tường, trên bộ bàn ghế gỗ, trên chiếc xe đạp mini màu hồng dựng ở góc. Trên tủ thờ có ảnh một ông cụ đội mũ cối, kính khung đã mờ. Tôi bật đèn pin, đo tường, chụp ảnh, ghi vào sổ.
Đi dọc hành lang vào trong, tôi mới để ý các cửa sổ. Cửa sổ nào cũng bị dán kín. Băng dính nâu, loại to bản, dán chồng lên nhau theo các khe cánh, dán cả mép kính, dán chéo lên những ô kính nứt. Ánh sáng ngoài phố lọt vào thành một màu vàng đục như nước chè để qua đêm.
Rồi tôi ngửi thấy mùi cơm.
Không phải mùi cơm thiu. Mùi cơm mới, gạo vừa chín tới, cái mùi thơm ngọt bốc lên lúc mở vung nồi. Mùi ấy làm tôi đứng sững giữa hành lang.
Bếp ở cuối nhà, nền lát gạch đỏ. Giữa bếp trải một chiếc chiếu cói. Trên chiếu là một mâm nhôm tròn, bát úp ngay ngắn thành hàng, đũa bó lại buộc dây chun. Một đĩa rau muống luộc đã khô quắt thành màu rêu, một bát nước rau cạn đến đáy. Mâm không có bụi. Chiếu cũng không có bụi. Cạnh mâm là cái nồi cơm điện màu trắng, dây cắm cuộn gọn, vung đậy kín.
Góc bếp có cái lò than tổ ong bằng tôn, quai sắt uốn. Trong lò còn một viên than, các lỗ đã trắng tro. Tôi cúi xuống chụp ảnh. Một luồng hơi ấm phả lên mặt tôi.
Tôi áp lòng bàn tay vào thành lò. Ấm. Không nóng, nhưng ấm như cái chăn người vừa nằm dậy.
Tôi gọi ra ngoài, hỏi có ai vào nhà nấu nướng không. Cường đứng ở cửa xếp, điếu thuốc trên môi, nói vọng vào mà không nhìn.
"Nhà bỏ không, chìa có mỗi tôi giữ. Chắc bọn nghiện nó trèo vào."
Bọn nghiện không dọn mâm. Bọn nghiện không để lại cái nồi cơm điện bán được mấy trăm nghìn. Tôi không nói ra. Tôi làm nốt việc của mình: đo bếp, chụp nhà vệ sinh, lên cầu thang gỗ xem tầng hai.
Tầng hai có một phòng ngủ, cánh cửa gỗ đóng im. Khe dưới chân cửa nhét một tấm chăn cuộn tròn. Tôi vặn nắm đấm, cửa không mở. Tôi đứng đó một lúc, nghe trong phòng im như đáy giếng. Tôi không cố nữa.
Khi tôi xuống, Cường đã khóa sẵn một nửa, chỉ chừa khe đủ người lách. Anh ta hỏi tôi định giá bao nhiêu. Tôi nói phải về tính. Anh ta gật, rồi ho một tràng dài, khom người bám vào cửa xếp.
Lúc tôi nổ máy xe, bà cụ bán nước chè ở vỉa hè bên kia đường nhìn theo tôi. Bà không mời, không hỏi, chỉ nhìn, cái quạt nan trên tay dừng lại giữa chừng.
Tối ấy tôi về nhà, tắm nước nóng, ăn cơm với vợ con. Hằng, vợ tôi, dạy mầm non, kể chuyện lớp. Con Na năm tuổi khoe được cô cho phiếu bé ngoan. Tôi quên chuyện căn nhà cho đến lúc đi ngủ.
Nửa đêm tôi tỉnh dậy vì khó thở. Ngực tôi như có ai đặt lên một bao gạo. Tôi hít vào mà hơi chỉ đến cổ họng là tắc. Trong mũi đặc một mùi hăng, khét, như đứng sát cái lò than vừa nhóm.
Trước khi tỉnh, tôi đã mơ. Trong mơ tôi đứng ở hành lang căn nhà phố Hàng Tiện, và từ trên tầng hai có tiếng đập cửa. Không phải gõ. Đập bằng cả bàn tay, dồn dập, rồi yếu dần, rồi lại dồn dập. Có người ở bên trong đập cửa xin mở.
Tôi ngồi dậy, mở toang cửa sổ phòng ngủ. Gió lạnh tạt vào. Hằng trở mình, càu nhàu:
"Anh làm gì đấy? Rét chết."
Tôi nói tôi ngửi thấy mùi than. Hằng hít hít, rồi ngồi bật dậy, nhìn tôi.
"Ừ. Mùi ở tóc anh ấy. Anh đi đâu mà ám mùi than thế?"