☾ Truyện Ma Có Thật
← Dấu điểm chỉ bằng muối

Chương 6: Đêm mưa thùng số bảy

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Lớp muối trên ngón cái tôi cạy mãi không ra, ngâm nước ấm cũng không tan. Gần sáng nó tự bong, rớt xuống bồn rửa thành mấy mảnh như vảy cá. Dưới đó da tôi trắng bệch, nhăn nheo như ngâm nước lâu ngày. Đường vân ngón cái mờ hẳn đi, phải nghiêng dưới đèn mới thấy.

Ba ngày sau vân tay mới rõ lại. Ba ngày đó tôi không ra nhà thùng.

Mùa mưa về sớm năm đó. Mưa đảo không giống mưa đất liền. Nó tới từ biển thành một bức màn xám, ngồi ở bàn làm việc thấy nó đi ngang qua Dương Đông, tạt vô cửa kính rồi đi luôn. Anh Tuấn nhắn một tin ngắn: còn năm ngày. Anh Khang để tờ đơn mất giấy tờ trên bàn tôi, kẹp với một mẩu giấy: "Làm cho xong".

Tôi tính kỹ rồi mới đi. Tôi sẽ ra nhà thùng từ chiều, mang theo cái xô nhựa, cây đèn pin sạc, ổ bánh mì. Tôi sẽ mở vòi thùng số bảy, xả cho cạn, lấy cái gói dưới đáy lên. Tôi sẽ không thò tay xuống nữa.

Tôi tới lúc trời còn sáng mà mây đã vần vũ. Tôi đặt xô dưới vòi thùng số bảy, xoay cái chốt gỗ. Chốt kẹt cứng. Tôi lấy cục đá nện vô, ba bốn lần thì nó nhúc nhích.

Nước mắm chảy ra thành một dòng to bằng ngón tay, nâu đỏ, trong veo. Đầy xô thì tôi xách ra cửa đổ xuống cát, rồi xách vô hứng tiếp. Tới xô thứ ba thì mưa xuống.

Mưa đập lên mái tôn như ai đổ sỏi. Trong nhà thùng tối sầm, mấy lỗ tôn rỉ biến thành mấy chục dòng nước nhỏ chảy xuống nền. Tôi bật đèn pin, treo lên cây đinh ở cột. Ánh đèn vàng chao qua chao lại theo gió lùa.

Tới xô thứ mười mấy thì tôi không đếm nữa. Tôi leo thang lên coi. Mặt nước trong thùng vẫn quá nửa, đen, phẳng, như tôi chưa lấy ra được một giọt.

Tôi ngồi phịch xuống can nhựa. Hai tay mỏi rã, áo ướt mồ hôi với nước mưa, cả người mặn chát.

"Xả hoài hổng hết đâu."

Ông Ba ngồi trên ghế đẩu. Mưa đổ ngay trên đầu ông, qua một lỗ tôn lớn, nước chảy ròng ròng xuống tóc, xuống vai. Nhưng chỗ ông ngồi nước không đọng, nó thấm đi đâu mất. Còn mặt ông, lần đầu tôi thấy rõ dưới ánh đèn, không ướt chút nào. Khô như giấy.

Tôi hỏi, giọng khàn đặc: "Chú muốn gì ở con?"

Ông nhìn ra cửa, ra màn mưa xám.

Rồi ông kể. Ông kể chậm, đứt đoạn, có chỗ dừng lâu tới mức tôi tưởng ông thôi. Năm 1981 ông bốn mươi tuổi, chở nước mắm bằng ghe qua Rạch Giá bỏ mối. Ở chợ Rạch Giá có cô Hương bán mắm lẻ, hai mươi tuổi, cười to, hay cự bạn hàng. Mỗi chuyến ông ở lại Rạch Giá ba bữa, rồi năm bữa. Cô Hương có bầu.

Ông về đảo xin má ông cho cưới. Má ông nói nhà thùng không rước gái chợ. Ông đang nợ chủ ghe, ông không dám cãi.

"Tao hứa với nó hết mùa cá tao qua. Hết mùa cá tao không qua. Mùa sau cũng không."

Tháng Tư năm 1982 có người đi ghe về nói cô Hương sinh con gái rồi chết, băng huyết, con nhỏ bà ngoại nuôi. Ông qua Rạch Giá đúng một lần. Ông đứng xa coi đứa nhỏ đỏ hỏn trong cái thúng. Ông ra ủy ban điểm chỉ vô tờ khai sinh cho nó có cha, rồi về. Không dám nhận.

"Con nhỏ tên Lành. Bà ngoại nó đặt. Tao không dám đặt."

Mỗi năm, tháng Chạp, ông rút một can mắm nhỉ ngon nhứt trong thùng số bảy, gửi tàu qua Rạch Giá cho bà ngoại. Không ghi tên. Bà ngoại biết. Con nhỏ thì không.

Tôi hỏi sao chú không tự qua bây giờ. Chú già rồi, con nhỏ cũng lớn rồi. Ông Ba im rất lâu. Ngoài kia một tia chớp làm trắng cả màn mưa.

"Tao đi không được."

"Sao vậy chú?"

Ông không trả lời câu đó. Ông chỉ nói đất này không phải của thằng Hùng, cũng không phải để bán cho thằng Hà Nội. Đất này của con Lành. Cô đi kiếm nó giùm tao.

"Còn trang cuối hợp đồng thì sao chú?"

"Chừng nào con Lành tới, trang cuối tính."

Tôi muốn hỏi thêm, thì tiếng nước trong thùng số bảy đổi khác. Nó không còn chảy đều qua vòi vô xô nữa. Nó ồ ạt. Tôi nhìn xuống. Cái chốt vòi đã tự bật ra. Nước mắm phun thành một luồng to bằng cổ tay, tràn qua miệng xô, tràn ra nền đất, chảy về phía chân tôi, ấm hơn tôi nghĩ.

Mặt nước trong thùng tụt xuống nghe ọc ọc, như có ai nằm dưới đáy đang thở.

Tôi lùi lên bậc cửa, nhìn dòng nước mắm loang khắp nền nhà thùng, chảy qua chân mười bốn cái thùng, chảy ra cát, lẫn với nước mưa. Cái ghế đẩu đã trống. Luồng nước ở vòi yếu dần, rỉ từng giọt, rồi ngưng.

Trời hửng sáng thì mưa tạnh. Tôi leo thang nhìn xuống. Thùng số bảy cạn trơ đáy. Dưới đáy, cạnh tấm lù đan bằng tre, có một gói ni lông xanh quấn nhiều lớp, cột dây cước, đóng đinh xuống ván.

Tôi leo vô thùng, nạy cây đinh bằng con dao rọc giấy. Trong gói có một tờ giấy khai sinh đã ố vàng. Trương Thị Lành, nữ, sinh tháng Tư năm 1982, nơi sinh thị xã Rạch Giá. Mẹ Lê Thị Hương. Cha Trương Văn Mến. Chỗ của người cha là một dấu lăn tay mực tím đã phai.

Dưới tờ khai sinh là một xấp biên nhận gửi hàng theo tàu Phú Quốc đi Rạch Giá, cột thun. Người nhận: bà Năm Thiệt, sạp mắm chợ Rạch Giá. Mỗi năm một tờ, mỗi tờ một can nước mắm, mỗi tờ một dấu điểm chỉ mực tím. Tôi lật tới tờ cuối. Tháng Chạp năm 2016.

Sau đó không còn tờ nào nữa.