Chương 9: Hàng dương sau nhà thùng
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Sáng sớm tôi chạy ra tiệm tạp hóa của bà Sáu Nở. Tiệm chưa mở. Tôi đứng gọi cửa, gọi tới lần thứ ba thì tấm cửa xếp kéo ra một khúc, bà Sáu đứng đó, tóc chưa búi.
Tôi không nói gì. Tôi mở bìa nhựa, giơ cho bà coi bảy tờ giấy trắng có dấu tay đỏ, rồi lật mặt sau tờ đầu cho bà đọc dòng bút chì.
Bà Sáu đọc. Bà vịn tay vô cánh cửa sắt.
"Vô đây cô."
Bà rót cho tôi ly trà, tay run làm trà sánh ra bàn. Bà ngồi trên võng, không đong đưa, hai bàn chân chống xuống nền gạch.
"Đêm mùng chín tháng Tám năm 2017, mưa như vầy nè cô. Sáng ra tui đem cơm cho ổng như mọi bữa, thấy ổng ngồi trên cái ghế đẩu, dựa lưng vô thùng số bảy. Tay ổng còn để trên cái vòi. Tui kêu, ổng không trả lời. Ổng đi từ hồi khuya rồi. Ông y sĩ trạm xá nói tim."
Tôi ngồi im. Ly trà trong tay tôi nguội dần.
"Tui gọi thằng Hùng. Nó ra, nó đuổi hết mọi người về, nói để nó lo. Nó ở một mình với xác ông Ba trong nhà thùng nguyên một đêm, nói là canh. Sáng ra tui với ông Tư Quẹo vô tắm rửa, thay đồ cho ổng."
Bà Sáu ngưng, nuốt khan.
"Ngón tay cái bên mặt của ổng đỏ lòm. Mực đỏ, mực in dấu. Tui lấy xà bông chà hoài không sạch. Tui hỏi, thằng Hùng nói hôm trước nó dắt ổng đi ngân hàng lăn tay. Ông Ba cả đời chưa bước chân vô ngân hàng."
"Sao hồi đó bà không nói với ai?"
Bà Sáu nhìn ra đường đất đỏ.
"Nói với ai cô? Xóm Gành bán đất hết rồi, người ta đi hết rồi. Còn tui với ông Tư. Thằng con tui nợ thằng Hùng một trăm triệu tiền ghe. Thằng Hùng nói nó lo giấy tờ, lo khai tử, rồi nó đi nói với thiên hạ ông Ba qua Rạch Giá ở. Tui biết nó tính chuyện đất. Tui sợ."
Bà nói thêm, giọng nhỏ hơn. Từ sau trăm ngày, đêm nào mưa bà cũng ngửi thấy mùi mắm nhỉ bay ra từ nhà thùng, thơm như hồi ông Ba còn rút mắm. Bà không dám ra.
"Bữa cô nói cô gặp ổng," bà Sáu nói, "tui biết ổng chờ được người rồi."
Tôi hỏi tháng Chạp năm 2016 ông Ba ở đâu. Bà Sáu nghĩ một lát, nói tháng Chạp năm đó ông Ba đi ghe ông Tư Quẹo ra hòn câu mực cả tuần. Về tới là ổng lo gửi can mắm Tết qua Rạch Giá như mọi năm.
Mộ ông Ba ở sau nhà thùng, bà Sáu chỉ đường. Tôi đi vòng ra phía sau, qua hàng dương già. Gió biển lùa qua lá dương nghe rào rạt, như có ai đang quét sân rất xa.
Ngôi mộ thấp, xây gạch tô xi măng, xanh rêu một bên. Cỏ lông mọc tới gối. Trên tấm bia đá mài, chữ khắc sơn đen đã tróc.
Trương Văn Mến. Sinh năm 1941. Mất ngày 9 tháng 8 năm 2017.
Không có ảnh. Trước bia có một cái lon sữa bò cắm mấy chân nhang đã mục. Bên cạnh là một cái chén sành nhỏ, trong chén còn đọng một lớp nước nâu đỏ, trong vắt. Tôi cúi xuống ngửi.
Mắm nhỉ.
Tôi ngồi xuống bên mộ, mở điện thoại coi lại từng tấm hình. Ghế đẩu, thùng số bảy, vệt nhòe. Tôi mở tờ hợp đồng đặt cọc ra, ba dấu ngón tay muối trắng nằm trên ba trang.
Tôi nhớ lại cái bắt tay đầu tiên. Ban ngày tao không có ở đây. Tao đi không được. Bữa đó tao đi biển.
Tôi đã ngồi với một người chết suốt ba tuần. Đọc giấy cho ông nghe, đưa mực cho ông chấm, xin ông giấy chứng minh nhân dân.
Đêm đó tôi ra nhà thùng một mình.
Ông Ba ngồi trên ghế đẩu, chỗ cũ. Lần này tôi không bật đèn. Tôi ngồi xuống cái can nhựa đối diện, đặt bìa nhựa xanh lên tấm ván, giữa hai người.
Lâu lắm tôi mới hỏi được.
"Chú mất rồi, phải không chú?"
Ông Ba nhìn tôi. Trong bóng tối tôi chỉ thấy hai con mắt sâu.
"Tao chờ cô hỏi câu đó lâu rồi."
Ông kể đêm đó trời mưa, tim ông thắt lại khi đang rút mắm. Ông ngồi xuống ghế, dựa lưng vô thùng, rồi không đứng dậy được nữa. Rồi thằng Hùng tới. Nó đuổi mọi người về, khóa cửa. Nó lấy hộp mực trong túi ra, cầm bàn tay ông, bẻ ngón cái ra, ấn xuống từng tờ giấy trắng. Mười hai tờ. Ông nằm đó thấy hết, mà không nhấc nổi một ngón tay.
"Bữa cô thò tay xuống thùng," ông nói, "tao cầm tay cô, ấn xuống y như nó ấn tay tao. Cho cô biết."
Tôi nhìn ngón cái của mình. Đường vân đã rõ lại, nhưng chỗ đó vẫn lạnh.
"Hai năm tao ngồi đây, không ai vô. Rồi cô tới đo đất. Tao biết cô sẽ bán đất của tao. Nên tao bán cho cô từ từ. Mỗi đêm một trang. Cho cô còn phải quay lại."
Tôi hỏi chú muốn con làm gì nữa.
"Con Lành tới chưa?"
"Thứ Bảy, chú."
Ông gật. Ông nhìn xuống tấm ván, chỗ tờ hợp đồng đặt cọc đang nằm, ba trang đã có dấu muối, trang cuối còn trống.
"Vậy còn trang cuối."
Ông nói xong thì đứng dậy. Lần đầu tiên tôi thấy ông đứng dậy khỏi cái ghế đó. Ông đi chậm tới thùng số bảy, đặt bàn tay lên cái vòi gỗ, đúng chỗ bà Sáu nói tay ông còn để trên đó sáng hôm ấy.
Rồi ông ngồi xuống đất, dựa lưng vô thùng, nhắm mắt lại. Và tôi ngồi đó, trong bóng tối, nhìn một người chết lặp lại cái chết của mình cho tôi xem.