Chương 3: Sợi dây đã rút
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Anh Vĩnh lo kỹ thuật cho Hải Lam, ba mươi mấy tuổi, ít nói, tin vào dây điện hơn tin vào người. Sáng thứ Tư anh mở cái tủ tổng đài trong kho dưới gầm cầu thang, soi đèn pin vào từng hàng dây. Tôi đứng xem. Kho là một khoảng hẹp hình tam giác, trần dốc theo bậc thang, chất đầy ga gối, mùi long não, mùi bụi gỗ.
Anh Vĩnh nói đường dây 204 là dây cũ nhất, đi âm trong tường biệt thự từ hồi nào không ai biết, sau này người ta nối vô tổng đài mới. Dây cũ, ẩm, chập mạch thì đèn sáng bậy cũng có. Anh không giải thích được giọng nói. Anh nói chắc nhiễu sóng, bắt nhầm điện thoại nhà ai ngoài hẻm.
Rồi anh rút hẳn đầu dây 204 khỏi bảng đấu, quấn băng keo đen, nhét vào hộc tủ. Lên phòng, anh rút luôn dây cái điện thoại khỏi ổ tường, cuộn lại, để cái máy trơ trọi trên tủ đầu giường.
"Giờ có ma cũng hết gọi," anh nói, không cười.
Chiều đó tôi đi bộ ra đầu hẻm mua xôi. Bà Năm bán xôi ở đầu hẻm từ trước năm bảy lăm, cái gánh tre giờ đã thành cái xe đẩy có tủ kính, nhưng nồi xôi vẫn đậy bằng lá chuối. Bà bảy mươi tám, răng còn đủ, nói giọng Nha Trang cũ y như giọng trong điện thoại, chữ cuối buông xuống.
Tôi hỏi bà về căn biệt thự hồi xưa. Bà gói xôi, không ngẩng lên.
"Nhà ông Võ Đình Khiêm đó con. Ổng có mấy chiếc ghe lưới, có lò nước mắm ngoài Vĩnh Trường. Nhà đó đông con, toàn con trai, có mỗi cô Út là gái. Cô Út Lài."
Bà nói cô Út Lài đẹp nhất xóm, đi đâu cũng mặc áo dài trắng, tóc búi. Cô không lấy chồng. Bà nói tới đó thì dừng, cột dây thun quanh gói xôi hai vòng, chặt hơn mức cần.
"Hồi đó người ta nói ra nói vô. Thôi, chuyện người ta."
Tôi hỏi nhà đó có ai tên Huệ không. Bà Năm ngẩng lên nhìn tôi, lần đầu tiên.
"Con Huệ là người ở. Ở với cô Út từ nhỏ. Nó nghỉ làm cũng lâu rồi, về quê ngoài Ninh Hòa lấy chồng. Mà con hỏi chi dị?"
Tôi nói chỉ tò mò. Bà Năm đưa tôi gói xôi, nhìn theo tôi tới tận cổng khách sạn.
Cuối tuần đó Nha Trang có hội chợ, khách đặt kín. Một gia đình ở Buôn Ma Thuột đi xe tới lúc mười giờ đêm, đặt qua mạng mà hệ thống báo lỗi, không còn phòng. Hai vợ chồng, đứa con gái sáu tuổi ngủ gục trên vai ba. Khắp khu đó khách sạn nào cũng kín. Tôi gọi bà Thục. Bà im một lúc, rồi nói cho họ ở 204.
Họ lên phòng. Tôi ngồi dưới quầy, mắt không rời bàn tổng đài. Cái đèn 204 giờ không còn dây nối vô, chỉ là một bóng nhỏ trơ trọi trong hàng.
Gần sáng, chú Tâm ngủ gật trên ghế. Tôi cũng díp mắt. Cái làm tôi tỉnh không phải tiếng chuông. Là tiếng nước, nhỏ giọt, tí tách, ngay trên mặt quầy.
Tôi mở mắt. Đèn 204 đang sáng.
Không có chuông. Đèn sáng im lìm, và trên mặt quầy gỗ, ngay dưới cái ống nghe, có một vũng nước nhỏ bằng lòng bàn tay. Cái ống nghe ướt, nước rỉ ra từ mấy cái lỗ nhỏ ở đầu nghe, như có ai cầm nó dưới mưa rồi đặt về.
Tôi nhìn quanh. Chú Tâm vẫn ngủ, cằm gục xuống ngực, radio tắt từ hồi nào. Cửa kính sảnh đóng. Ngoài sân không mưa, nền gạch khô. Không có ai đi ngang quầy.
Tôi nhấc ống nghe. Nước chảy xuống cổ tay tôi, lạnh, mặn. Đầu dây có tiếng lục bục đều đều, gần hơn đêm trước. Có thêm một tiếng tít nhỏ, cách quãng, đều như nhịp chân người đi.
Lần này không có câu hỏi trọn. Giọng ấy rời rạc, đứt khúc, như người nói trong lúc đang ngủ:
"Hộp... thiếc... Cô... dưới..."
Rồi một hơi thở dài, rồi im. Đèn 204 tắt.
Tôi đứng dậy định lên lầu thì nghe tiếng chân trên cầu thang. Bậc thứ bảy rít lên. Người cha ở Buôn Ma Thuột đi xuống, bế đứa con gái, vợ theo sau xách túi. Mặt anh tái. Anh nói muốn trả phòng, tiền không cần lấy lại.
Đứa nhỏ đã thức. Nó dụi mắt, nhìn tôi qua vai ba, nói giọng ngái ngủ:
"Cô ơi, bà ngồi ở cửa sổ hỏi con có thấy cái hộp hông. Con nói hông. Bà khóc. Tay bà ướt quá trời."
Người mẹ bịt miệng đứa nhỏ. Họ đi ra xe, không ngoái lại. Tôi đứng ở sảnh, cổ tay còn ướt nước mặn. Trên tay vịn cầu thang, từ chỗ bậc thứ bảy trở lên, có một vệt nước kéo dài trên lớp gỗ đen bóng, như có người vừa vịn bàn tay ướt mà đi chậm từng bước lên lầu.
Vệt nước dừng ở đầu cầu thang. Không đi về phía phòng 204. Nó dừng lại ở đó, rồi khô dần từ mép vào, để lại một lớp muối trắng mịn như phấn.