☾ Truyện Ma Có Thật
← Phòng gọi xuống lễ tân

Chương 4: Mùi dầu cù là

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Gia đình Buôn Ma Thuột về rồi viết một bài đánh giá một sao, kể đủ chuyện. Bà Thục gọi điện xin họ gỡ, họ không gỡ. Khách đặt phòng 204 hủy liên tiếp. Chị Loan không chịu lên dọn phòng đó một mình nữa. Anh Vĩnh mở lại tủ tổng đài, thấy đầu dây 204 vẫn quấn băng keo đen nằm trong hộc, khô ráo. Anh đóng tủ, khóa, rồi xin nghỉ ba ngày về quê.

Bà Thục mời thầy. Ông thầy tên Sáu, ở dưới Cam Ranh, người ốm nhom, đeo cặp kính dày. Ông tới vào chiều mười bốn âm lịch, mang theo một cái túi vải, một bó nhang, một xấp giấy tiền. Mâm cúng bày ngay trong phòng 204, trên cái bàn trang điểm: đĩa trái cây, ly nước, chén gạo muối, bộ đồ giấy đàn bà màu tím.

Tôi đứng ở cửa phòng, theo lời bà Thục. Ông Sáu khấn lâu, giọng đều đều.

Khấn xong ông cầm hai đồng xu xin keo. Ông gieo xuống cái đĩa sứ. Hai đồng sấp. Gieo lại. Sấp. Gieo lần thứ ba, một đồng lăn khỏi đĩa, lăn qua sàn, dừng lại ngay chân tủ đầu giường, chỗ cái điện thoại đã bị rút dây.

Ông Sáu ngồi im. Ông tháo kính lau, rồi đeo vào, ngó quanh phòng như người tìm một vật đánh rơi.

"Lạ à nghen," ông nói với bà Thục. "Tui kêu hoài mà dưới đó hổng có ai lên. Hổng có vong nào ở đây hết. Mà mùi thì có người."

Bà Thục hỏi vậy là sao. Ông lắc đầu. Ông nói ông làm nghề bốn chục năm, gặp người chết rồi không chịu đi thì nhiều, cái này ông chưa gặp. Hơi người còn ấm. Ông không lấy tiền công, chỉ lấy tiền xe, gói đồ đi về. Ra tới cổng ông còn quay lại nói với bà Thục:

"Bà coi có ai trong nhà đang bệnh nặng hông. Người bệnh nằm lâu, hồn hay đi lang thang."

Bà Thục nói nhà bà không ai bệnh. Bà sống một mình. Chồng mất, không con. Má bà mất từ năm chín sáu.

Chiều đó tôi lại ra đầu hẻm. Tôi mua của bà Năm hai gói xôi đậu phộng, ngồi xuống cái ghế đẩu bên xe xôi ăn tại chỗ. Ăn xong tôi kể cho bà nghe chuyện cuộc gọi, chuyện hộp thiếc, chuyện cái tên Huệ. Bà Năm nghe, tay lau mãi một cái muỗng đã sạch.

Rồi bà kể. Giọng bà nhỏ, chậm, có chỗ ngừng lâu.

"Năm sáu mươi ba, cô Út thương một người. Anh Kha, làm nghề leo hang lấy yến ngoài mấy hòn đảo. Con nhà nghèo, ở Xóm Bóng. Ông Khiêm hông chịu. Cô Út lén gặp. Tối nào anh Kha cũng chèo thúng vô bãi, cô Út đứng trên cửa sổ lầu ngó ra biển đợi đèn."

Tôi hỏi cửa sổ nào. Bà Năm hất cằm về phía khách sạn.

"Cái cửa sổ mở hoài đó. Tháng Ba năm sáu mươi bốn, anh Kha trượt chân trên vách hang ngoài hòn, rớt xuống ghềnh. Người ta đem xác về. Cô Út hông được đi đám. Rồi ông Khiêm đưa cô lên Đà Lạt nói là dưỡng bệnh, đi gần nửa năm. Khi về thì cô ốm nhom, hông nói hông cười."

Bà Năm ngừng. Tôi hỏi còn Huệ.

"Con Huệ đi theo cô lên Đà Lạt. Về được ít bữa thì nó nghỉ làm, về Ninh Hòa. Nghe nói nó lấy chồng ngoải, có con gái liền." Bà cười một cái không vui. "Người trong xóm biết hết mà hông ai nói ra. Nhà ông Khiêm có tiền."

Tôi hỏi sau đó cô Út ra sao. Bà Năm nói sau năm bảy lăm, mấy người anh của cô đi hết, ông Khiêm chết, nhà bị trưng dụng làm trụ sở. Năm bảy tám người ta lên lấy nhà, cô Út dọn ra trong một buổi sáng, chỉ xách được cái va li. Sau đó cô ở trọ gần chợ Đầm, nhận may đồ, dạy may cho con gái trong xóm. Rồi cô già, rồi bà Năm cũng không còn gặp nữa.

"Chắc mất rồi con. Cũng lâu lắm rồi."

Tôi về khách sạn với ý nghĩ ấy trong đầu. Bà cụ trong điện thoại là cô Út Lài. Bà đã chết, và hồn bà về căn nhà cũ tìm cái hộp thiếc. Mọi chuyện có vẻ khớp. Tôi không biết lúc đó mình đã bỏ qua câu nói của ông thầy Sáu.

Đêm đó trời chuyển. Gió từ biển thổi vào hẻm mạnh, đập cánh cổng sắt kêu loảng xoảng. Chú Tâm ra cài thêm cái chốt. Đèn tuýp sảnh chớp liên tục.

Đèn 204 sáng. Tôi nhấc máy ngay khi tiếng chuông đầu chưa dứt.

"Bà Út phải không bà?" tôi hỏi.

Đầu dây im. Tiếng lục bục, tiếng tít đều đều. Rồi giọng ấy, rõ hơn mọi lần, gần như sát bên tai tôi:

"Cô nói giùm với con nhỏ... tui hông có bỏ nó. Tui có viết. Năm nào cũng viết."

Tôi hỏi viết gì, gửi cho ai. Đầu dây chỉ còn tiếng thở. Tôi đặt ống nghe xuống, đưa tay lên dụi mắt.

Tay tôi có mùi dầu cù là. Đậm, cay, như vừa nhúng ngón tay vào hộp dầu. Tôi đưa tay lên thái dương. Da ở đó ấm và trơn, như có ai vừa xức dầu cho tôi lúc tôi không để ý.

Tôi quay lại nhìn bảng chìa khóa. Móc số 204 trống trơn.