Chương 6: Viện dưỡng lão bên sông
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Sáng hôm sau tôi kể cho bà Thục nghe mọi chuyện, kể cả sợi ống nhựa. Bà ngồi ở bàn sảnh, ly cà phê đá tan thành nước mà không uống một ngụm.
Tôi hỏi bà, má bà tên gì. Bà nhìn tôi, hơi lạ.
"Huệ. Lê Thị Huệ. Cô nói rồi mà, má cô đi ở cho nhà này hồi con gái."
Tôi kể lại lời bà Năm. Người ở tên Huệ, theo cô Út Lài lên Đà Lạt, về thì nghỉ làm, về Ninh Hòa lấy chồng, có con gái liền. Bà Thục gật đầu, chậm rãi, như nghe kể chuyện nhà mình mà không thấy gì lạ. Bà nói ba bà đi biển, mất khi bà chưa biết đi. Má bà ở vậy nuôi bà, bán cá ở chợ Dinh, mất năm chín sáu vì xuất huyết não, đi trong một buổi chiều, không kịp dặn gì.
"Có dặn," bà nói lại, rồi lắc đầu. "Má cô nằm thở dốc, nói con xuống Nha Trang hỏi bà Út. Cô hỏi hỏi chi, má hổng nói được nữa. Cô tưởng má lẫn."
Bà nói bà không biết bà Út là ai. Hồi đó bà đi hỏi một bận ở hẻm này, người ta nói nhà họ Võ đi hết rồi.
Tôi không nói ra điều mình đang nghĩ. Tôi chỉ nói tôi muốn đi tìm bà Út Lài. Ông thầy Sáu nói hơi người còn ấm. Cái ống nhựa trong tấm kính là ống thở. Nếu bà Út còn sống, bà phải đang nằm ở đâu đó.
Bà Thục cho tôi nghỉ hai ngày, có lương.
Cháu gái bà Năm bán quần áo ở chợ Đầm, chỉ tôi tới dãy phòng trọ cô Út từng ở, sau lưng chợ. Bà chủ trọ là một bà sồn sồn, đang phơi cá khô trên mái tôn. Bà nhớ cô Út. Bà nói cô Út ở đó gần ba chục năm, may đồ, dạy may, sạch sẽ, ít nói. Ba năm trước cô lẫn, có bữa đi lạc ra tới ga xe lửa. Một người cháu họ ở Sài Gòn về, đưa cô lên viện dưỡng lão Phước An ở Diên Khánh, tháng nào cũng gửi tiền.
"Còn sống hông thì tui hổng biết nghen em. Hồi đi cô xách mỗi cái va li."
Chiều đó tôi chạy xe máy lên Diên Khánh. Viện dưỡng lão Phước An nằm sát sông Cái, mấy dãy nhà một tầng mái ngói đỏ, sân có giàn hoa giấy và mấy cây sứ. Chiều tháng Mười, sông đục ngầu, nước lên gần mép bờ kè.
Người tiếp tôi là chị Quyên, điều dưỡng, chừng ba mươi lăm, giọng Phú Yên. Tôi nói tôi là người quen cũ của bà Võ Thị Lài. Chị nhìn tôi một lúc, rồi dẫn tôi đi dọc hành lang.
"Bà Lài hả em. Bà tai biến hồi đầu tháng Chín. Nằm mê từ đó tới giờ. Bác sĩ nói chắc hông qua được mùa mưa."
Phòng mười hai ở cuối dãy, có hai giường, giường kia trống. Bà Lài nằm ở giường sát cửa sổ. Tôi đứng ở cửa, và tôi nhận ra bà trước khi chị Quyên kịp nói.
Tóc bạc cắt ngắn sát gáy. Bộ đồ ngủ vải mỏng màu xanh nhạt. Nơi cổ áo có miếng vải trắng may đính, chữ viết bằng mực: V.T. Lài, P12. Sợi ống nhựa trong vắt luồn qua mũi, vòng ra sau tai, nối vào một bình nước gắn ở tường. Bình nước sủi bọt lục bục, lục bục. Bên đầu giường, cái máy đo nhịp tim phát ra tiếng tít đều, chậm.
Và mùi dầu cù là. Cả căn phòng thơm mùi dầu cù là.
Chị Quyên đi tới đầu giường, mở ngăn tủ lấy ra một hộp dầu thiếc tròn, chấm một chút lên thái dương bà, xoa nhẹ.
"Bà quen mùi này lắm. Hồi còn tỉnh, ngày nào cũng đòi xức. Giờ nằm vậy, tụi chị vẫn xức cho bà, coi như cho bà đỡ lạ."
Tôi đứng chết lặng. Chị Quyên kể tiếp, giọng đều đều của người làm nghề lâu, quen với chuyện người ta nằm đó rồi đi. Hồi còn tỉnh mà lẫn, bà Lài hay đòi về nhà, nói về kiếm cái hộp thiếc. Bà hay gọi Huệ ơi Huệ. Bà đòi ngồi ở cửa sổ phía đông, nói ngó ra biển, mà từ đây ra biển hơn chục cây số, chỉ thấy ruộng mía với sông.
"Từ hồi mê thì lạ lắm em. Đêm nào tụi chị cũng thấy cái đèn chuông gọi của phòng mười hai sáng. Chạy vô, thấy ngón tay bà đè lên nút chuông, mà bà vẫn mê. Bác sĩ nói phản xạ."
Chị chỉ cái nút chuông gọi điều dưỡng gắn ở thành giường, bằng nhựa trắng, ngay tầm bàn tay phải của bà.
"Mà sáng nào hai bàn tay bà cũng ướt nhẹp. Gối cũng ướt. Phơi gối ra nắng, khô rồi còn đóng một lớp muối trắng. Tụi chị nói bà khóc trong lúc mê đó em."
Tôi bước lại gần giường. Hai bàn tay bà Lài nằm trên tấm chăn, gầy như hai nhánh củi khô, da mỏng, móng tay cắt sát. Tôi chạm vào. Lạnh, và ướt.
Chị Quyên nói bà không còn ai thăm. Người cháu họ ở Sài Gòn chỉ gọi điện. Đồ đạc của bà còn có một cái va li trong kho. Chị hỏi tôi muốn xem không, biết đâu có giấy tờ gì, người nhà cần.
Va li da nâu, khóa đồng gỉ. Bên trong có mấy bộ áo dài trắng cũ, một cây kéo may, một cuộn thước dây, mấy hộp dầu cù là đã hết. Và một bao thư giấy dày, trong bao thư có một tấm ảnh đen trắng, cạnh có răng cưa.
Trong ảnh là một cô gái trẻ mặc áo dài trắng, tóc búi, đang ôm một đứa bé quấn tã, ngồi trên ghế đá trước một hàng thông. Đứng cạnh là một cô gái mười tám mười chín, mặc áo bà ba, hai tay chắp trước bụng, mặt tròn, cười rất hiền.
Tôi lật mặt sau. Mực tím đã phai, nét chữ nghiêng, đẹp:
"Thục, đầy tháng. Đà Lạt, tháng Mười năm 1964."