☾ Truyện Ma Có Thật
← Thẻ đèn lò số mười bảy

Chương 9: Những chữ trên vỏ đèn

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Kiên ngồi tựa lưng vào cây vì chống bên trái, hai đầu gối co lên, đầu nghiêng về phía vai. Mười hai năm, áo bảo hộ đã mục thành từng mảng, xương lộ ra màu nâu sẫm như gỗ lim ngâm bùn. Cái mũ lò vẫn đội trên đầu, quai cài dưới cằm. Thợ lò được dạy, sập lò thì đội mũ, cài quai, ngồi yên, giữ sức. Kiên đã làm đúng như thế.

Tôi quỳ trong cái khoảng trống chật ấy, đèn trên mũ tôi rọi thẳng vào. Tôi không thấy sợ. Lạ lắm. Suốt mười chín ngày tôi sợ một tấm thẻ đồng, một cây đèn cắm sạc, một vệt sáng trong khe tường. Đến lúc gặp chính người ấy, tôi chỉ thấy mình đến muộn.

Cây đèn của Kiên đặt trên đùi, chao đèn tháo khỏi mũ, quay ra phía cửa ngách. Hộp ắc quy sắt nằm bên cạnh, dây vẫn nối. Tay phải Kiên đặt trên nắp hộp. Giữa những đốt ngón tay là một cái đinh vì chống dài chừng một gang, gỉ đỏ.

Lão Cường chui vào sau tôi. Lão nhìn, rồi quay mặt đi, vai rung lên. Lão lẩm bẩm, chú Kiên ơi, anh em đến đón chú đây.

Anh Lâm vào sau cùng, mang theo máy ảnh. Anh chụp từng góc, đánh dấu vị trí từng vật trước khi cho ai động vào. Đến lúc anh lau lớp bụi trên nắp hộp ắc quy bằng một cái chổi lông, chúng tôi mới thấy những vết vạch.

Chữ. Vạch bằng đầu đinh lên lớp sơn đen, nét run, sâu nông không đều, như người viết trong bóng tối, viết bằng tay sờ. Có chỗ chữ chồng lên chữ. Có chỗ bỏ dở. Anh Lâm rọi đèn xiên cho các vết vạch nổi bóng lên, rồi đọc to từng chữ một, chậm.

"Anh Bính hút ở ngách cụt. Tôi không mang lửa."

Bên dưới, nhỏ hơn, lệch xuống:

"Còn sống. Nghe thấy đội đào. Đèn còn ít, bật tắt cho đỡ hao."

Rồi một dòng nữa, nét đã yếu, chữ nọ xô chữ kia:

"Lụa. Trai đặt là Tùng như đã nói."

Dưới cùng là một con số. Số mười bảy, số bảy có gạch ngang.

Không ai nói gì. Quạt gió ở ngoài đường lò kêu ù ù. Tôi nghe tiếng thằng Toản ở cửa ngách khóc, lần này không cười. Anh Lâm ghi cả mấy dòng chữ vào sổ, chép đúng từng nét, rồi bảo lão Cường và tôi ký làm chứng bên cạnh. Lần thứ hai trong đời tôi ký vào một tờ giấy về cái chết của Kiên. Lần này tôi đọc kỹ từng chữ trước khi ký.

Chúng tôi gói Kiên trong tấm vải trắng đội cấp cứu mang theo, đặt lên cáng. Cây đèn và hộp ắc quy anh Lâm bọc riêng trong túi ni lông, dán giấy niêm phong. Lúc dọn khoảng trống, anh còn nhặt được một thứ ở ngách cụt bên phải, dưới lớp tro than ở chân vách, chỗ tâm nổ. Một cái bật lửa xăng vỏ thép, nắp bật đã cháy cong, chảy một bên. Anh cạo lớp muội ở mặt sau. Hai chữ khắc bằng mũi dao vẫn còn đọc được.

Đ.B.

Chúng tôi đưa Kiên ra cửa lò khi trời vừa rạng. Mưa phùn lại về, mái tôn ướt lấp loáng. Ngoài cửa lò người đứng đông hơn tôi tưởng.

Thợ ca hai chưa về. Thợ ca ba đến sớm. Vợ con mấy người thợ cũ. Ông Thự ngồi trên một cái ghế nhựa, có cháu gái che ô, ngực vẫn phập phồng.

Chiếc com-măng-ca đỗ ở bãi đất đối diện. Anh Bính đứng cạnh xe, không mặc áo mưa, tóc ướt dính bết vào trán. Anh Lâm đi thẳng đến chỗ anh, giơ cái bật lửa cháy cong lên trước mặt anh, không nói câu nào. Anh Bính nhìn nó. Rồi chân anh khuỵu xuống, như có ai rút xương sống anh ra. Anh ngồi bệt xuống bùn, bàn tay phải da bóng ôm lấy mặt.

Chị Lụa đứng ở chỗ mái tôn, chỗ chị đứng suốt chín đêm. Chị không chạy đến. Chị đợi chúng tôi đặt cáng xuống tấm bạt, rồi mới bước tới, từng bước một, như sợ làm ai thức. Chị quỳ xuống cạnh cáng. Chị không lật tấm vải. Chị chỉ đặt tay lên chỗ ngực, rồi lên chỗ đầu.

Anh Lâm đưa cho chị xem cây đèn trong túi ni lông. Chị đọc những dòng chữ qua lớp ni lông mờ hơi nước. Đến dòng có tên thằng Tùng, chị gật đầu, gật mãi, như đang trả lời ai.

Rồi chị đưa tay vào túi áo ngực bên trái, cái túi chị hay ấn tay lên suốt chín đêm. Chị lấy ra một vật nhỏ, dẹt, màu nâu đồng, buộc một sợi dây gai đã sờn. Chị đặt nó lên tấm vải trắng, đúng chỗ ngực Kiên.

Tấm thẻ đồng số mười bảy.

Tôi đứng cách chị hai bước. Tôi nhìn tấm thẻ, nhìn sợi dây gai, nhìn bàn tay chị vừa rời khỏi nó. Mưa rơi lộp độp trên mái tôn. Tôi nhớ cái ấm của tấm thẻ trong lòng bàn tay mình, cái ấm của da người, của một thứ vừa nằm trong túi áo ai, áp vào ngực.