Chương 3: Cuộc họp chiều thứ Hai
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Phòng họp nhà điều hành có mười hai cái quạt trần, chỉ ba cái chạy. Chiều thứ Hai, trưởng ca, quản đốc, kỹ thuật các khu ngồi chật hai dãy bàn kê chữ U. Trên tường treo tấm bản đồ mỏ vẽ tay trên giấy can, mép giấy đã quăn. Khu Đông trên bản đồ được tô chéo bằng bút chì đỏ, bên cạnh ghi chữ "bịt 1987".
Anh Bính vào muộn năm phút. Mười hai năm, anh béo ra, tóc hói lên đến đỉnh, đeo kính trắng. Bàn tay phải vẫn còn vết bỏng, da bóng và nhăn như giấy bóng kính bị hơ lửa. Anh ngồi xuống, đặt tay trái lên tay phải, cứ thế suốt buổi.
Anh nói về vỉa than mới. Dưới khu Đông, sâu hơn lò cũ ba mươi mét, đoàn địa chất vừa khoan thấy một vỉa dày, than tốt. Đường vào gần nhất là đi qua lò Đông cũ. Nhưng anh không định đi qua.
"Khu vực sập năm tám bảy, khí vẫn còn tích. Mình đào lò mới vòng phía nam, tránh hẳn. Ngách cũ thì bơm vữa bê tông chèn kín. Coi như xong."
Anh dùng đầu bút gõ vào chỗ tô đỏ trên bản đồ, một cái thật khẽ. Không ai nói gì. Quạt trần kêu lạch xạch.
Tôi giơ tay. Tôi không định giơ, tay tự lên. Tôi hỏi anh Bính, thế còn người trong đó.
Phòng họp im hẳn. Có ai đó đặt cốc nước xuống bàn, tiếng cốc chạm mặt gỗ nghe rất to. Anh Bính tháo kính ra lau, không nhìn tôi.
"Mười hai năm rồi, Vượng ạ. Bây giờ đào vào cái chỗ ấy là chết thêm người. Anh làm kỹ thuật, anh phải tính cho người sống."
Rồi anh chuyển sang chuyện phân công. Tôi ngồi nhìn bàn tay phải của anh, cái bàn tay da bóng ấy. Ngón trỏ và ngón giữa thỉnh thoảng lại chụm vào nhau, đưa lên gần môi, rồi hạ xuống. Thói quen của người hút thuốc lâu năm. Trên bàn anh không có bao thuốc nào. Người ta bảo anh bỏ từ hồi lên làm lãnh đạo.
Họp xong, ra hành lang, lão Cường kéo tôi vào góc cầu thang. Lão bảo cả ca ba đã biết chuyện tấm thẻ. Thằng Toản kể cho nhà nó, nhà nó kể ra chợ. Lão hạ giọng:
"Nó về đúng lúc mỏ định đổ bê tông. Anh nghĩ có phải tự dưng không."
Tôi bảo lão đừng nói vớ vẩn. Lão nhìn tôi, rồi nói một câu tôi nhớ mãi.
"Năm ấy anh cũng ký, em cũng ký. Nó về là về tìm cả hai thằng mình đấy."
Tôi về nhà ăn cơm chiều, ngồi mãi không nuốt được. Vợ tôi hỏi, tôi bảo mệt. Thằng con trai tôi đang chép bài dưới ánh đèn bàn, số nào cũng tròn trịa, không có gạch ngang nào. Tôi nhìn những con số ấy một lúc lâu, rồi đứng dậy đi làm sớm, quên cả mang áo mưa.
Đêm ấy tôi đến phòng đèn sớm hơn mọi khi. Bảng thẻ sạch. Cột "trong lò" trống trơn, cái móc gỉ ở góc trên cũng trống.
Chị Lụa ngồi sau ô cửa, đang khâu lại quai một cái túi vải đựng bình tự cứu. Chị hỏi tôi họp có gì. Tôi kể qua. Chị nghe, mũi kim vẫn lên xuống đều, chỉ hỏi lại một câu:
"Bơm bê tông thì có đào vào chỗ nhà em không anh."
Tôi bảo không. Chị gật, cắn đứt sợi chỉ, không nói gì nữa.
Ca ấy tôi làm mà đầu óc để đâu đâu. Gần sáng, lên đến phòng đèn, việc đầu tiên tôi làm là ngẩng nhìn bảng. Tấm thẻ đồng lại ở đó, trên cái móc gỉ, hơi nghiêng, như ai treo vội.
Lần này tôi không để nó lại. Tôi gỡ xuống, bỏ vào túi áo, không nói với ai. Tấm thẻ vẫn ấm, cái ấm của da người. Tôi đi tắm, kỳ cọ mãi mà người vẫn lạnh. Tắm xong, tôi mở cái tủ sắt của mình ở cuối dãy nhà tắm, cất tấm thẻ vào hộp thiếc đựng xà phòng, khóa tủ, rồi thử giật cửa ba lần. Chìa khóa tôi xâu vào thắt lưng.
Cả ngày hôm ấy tôi ngủ không yên. Vợ tôi bảo tôi nằm mơ nói mê, cứ hỏi đi hỏi lại "ai treo". Chiều, tôi lên mỏ sớm, đi thẳng ra nhà tắm.
Tủ vẫn khóa. Ổ khóa không có vết cạy. Tôi mở ra. Hộp thiếc vẫn nằm đó, nắp vẫn đậy.
Bên trong chỉ có bánh xà phòng.
Tôi đứng trong nhà tắm vắng, nước nhỏ giọt từ một vòi hỏng xuống nền xi măng. Tôi lục cả tủ, lật áo bảo hộ, dốc ngược đôi ủng. Không có. Tôi đi sang phòng đèn. Trời chưa tối hẳn, ca hai chưa lên. Trên bảng gỗ, giữa hàng chục tấm thẻ nhôm trắng của ca hai đang ở dưới lò, cái móc gỉ ở góc trên cùng đã có người.
Tấm thẻ đồng số mười bảy treo ở đó, thẳng thớm, như chưa từng rời đi.