Chương 4: Ô sạc bỏ trống
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Ba đêm sau, cả ca ba không ai đến phòng đèn một mình. Chúng nó rủ nhau từng tốp năm bảy đứa, đứng ngoài hiên hút thuốc cho xong rồi mới chịu vào. Thằng Toản đeo thêm một túi gấm đỏ nhỏ ở cổ, mẹ nó xin ở đền Cửa Ông. Lão Cường thì mang theo một vốc gạo muối, lúc qua bảng thẻ lại rắc một nhúm xuống chân tường.
Tấm thẻ vẫn ở đó mỗi sáng. Tôi không gỡ nữa. Tôi để nó treo, cứ cuối ca lại đứng nhìn nó một lúc, rồi ký sổ. Chị Lụa không nhắc đến nó. Có lần tôi bảo chị, hay chị cất nó đi. Chị đang dồn đèn vào giá, đáp mà không ngẩng lên:
"Của ai người ấy cất. Em không dám động vào."
Đêm thứ tư thì đến cái giá sạc.
Thằng Toản thấy trước. Nó lĩnh đèn xong, đang cúi cài bình tự cứu vào thắt lưng, thì đứng thẳng lên, chỉ tay qua ô cửa. Giữa ô mười sáu và ô mười tám, cái khoảng trống mười hai năm nay không ai cắm gì, giờ có một cây đèn.
Không phải đèn ắc quy bây giờ, vỏ nhựa vàng. Cây này là loại cũ, vỏ sắt sơn đen đã tróc từng mảng, cái chao đèn to bằng miệng bát, dây điện bọc vải. Loại đèn mỏ dùng từ trước năm chín mươi, sau thanh lý hết. Đèn báo sạc trên nắp hộp ắc quy sáng đỏ, một chấm nhỏ trong cái phòng đầy ánh đèn tuýp.
Phía sau tôi có đứa nói khẽ một câu chửi thề. Thằng Toản lùi lại, va vào lão Cường. Tôi hỏi chị Lụa đèn này ở đâu ra.
Chị nhìn cây đèn, nhìn rất lâu, rồi mới trả lời. Chị bảo lúc chị nhận ca đã thấy nó ở đấy. Chị tưởng ca hai lấy trong kho thanh lý ra sạc thử. Chị vừa định hỏi thì chúng tôi đến.
"Ổ cắm ô ấy hỏng từ lâu rồi mà."
Lão Cường nói, giọng khàn. Chị Lụa không đáp. Tôi đi vòng vào trong phòng đèn, việc tôi ít khi làm, vì đó là chỗ của người phát đèn. Mùi a-xít ắc quy cay nồng xộc lên mũi.
Tôi đến sát giá sạc, cúi xuống nhìn. Dây cắm của cây đèn cũ cắm vào ổ, chặt chẽ. Tôi đặt tay lên hộp ắc quy. Nó âm ấm, đúng cái ấm của một cây đèn đang nạp điện.
Tôi rút dây ra. Đèn báo tắt. Tôi để cây đèn lên mặt bàn gỗ của chị Lụa, bảo chị sáng mai báo bảo vệ.
Thằng Toản không chịu xuống lò. Nó đứng ở hiên, môi tái, bảo anh trừ lương em cũng được. Tôi biết nếu để một đứa về thì đêm sau sẽ là năm đứa. Tôi túm vai nó, lôi đi. Nó khóc thút thít suốt từ cửa lò đến tận lò chợ, nước mắt rạch hai vệt trắng trên mặt đầy bụi than.
Ca ấy dài như hai ca. Dưới lò không có gì, chỉ có tiếng khoan, tiếng than đổ xuống máng, tiếng nước rỉ từ nóc lò. Nhưng tôi cứ quay lại nhìn phía sau. Đường lò dọc vỉa sau lưng tôi tối đen, ánh đèn trên mũ chỉ soi được một khúc. Lần nào quay lại tôi cũng thấy mình ngu.
Gần sáng lên, tôi vào phòng đèn trước tất cả. Cây đèn cũ không còn trên bàn. Nó đã về lại khoảng trống giữa ô mười sáu và ô mười tám, dây đã cắm, chấm đỏ đã sáng.
Chị Lụa đang ngủ gục trên bàn, đầu gối lên cánh tay. Tôi gọi, chị giật mình ngẩng lên, mắt đỏ, má hằn vệt tay áo. Chị nhìn theo tay tôi chỉ, rồi đưa tay lên che miệng. Chị bảo chị ngủ quên từ quá nửa đêm, không nghe thấy gì.
Tôi lật cuốn sổ xuất đèn trên bàn. Cuốn sổ bìa xanh, giấy ô li, mỗi dòng một số đèn, một tên người, giờ xuất, giờ nhận. Chữ chị Lụa đều và nghiêng. Số bảy nào của chị cũng có một gạch ngang. Ca ba đêm ấy, ba mươi ba dòng, tôi dò từng dòng một.
Dưới dòng cuối cùng, dòng của tôi, có thêm một dòng không phải chữ của ai trong ca.
Cũng mực bi xanh, cũng nét nghiêng, nhưng nắn nót hơn, từng chữ cách nhau như người viết chậm. Số đèn mười bảy, số bảy có gạch ngang. Tên người: Ngô Văn Kiên. Cột giờ xuất ghi "ca ba". Cột giờ nhận để trống.
Tôi đặt sổ trước mặt chị Lụa. Chị nhìn, rồi lắc đầu. Chị bảo không phải chị viết. Chị bảo, giọng nhỏ dần, chữ nhà em thầy dạy thế, em học theo nhà em, nên ai nhìn cũng tưởng là em.
Tôi tin chị. Lúc ấy tôi tin, vì tôi nhớ những cuốn sổ tay của Kiên, những con số bảy gạch ngang ngay ngắn. Chị viết giống chồng, thì ma viết giống chị, có gì lạ. Tôi nghĩ thế, và thấy lạnh ở gáy.
Tôi gập sổ lại, định đi. Rồi tôi mở ra lần nữa, không hiểu vì sao, và dò dòng ấy đến tận mép giấy. Ở cột cuối, cột ghi chú mà chẳng bao giờ ai viết gì, có hai chữ lúc nãy tôi bỏ sót. Nét bút đè mạnh đến mức hằn sang cả trang sau.
Chưa lên.