Chương 5: Lời ông Thự
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Ông Thự ở một dãy nhà cấp bốn lợp ngói xi măng dưới chân dốc Cẩm Đông, sát đường tàu chở than. Ông làm đội cấp cứu mỏ hai mươi năm, về hưu năm 1990 vì bụi phổi. Tôi đến vào một buổi trưa, mang theo cân cam và gói chè Thái. Ông nằm trên cái giường tre kê sát cửa sổ, ngực phập phồng, thở như kéo bễ.
Cháu gái ông rót nước rồi lui xuống bếp. Ông nhìn tôi một lúc lâu mới nhận ra. Ông bảo thằng Vượng cõng thằng Bính ra, phải không. Tôi gật. Ông cười, cái cười làm ông ho đến chảy nước mắt.
Tôi kể chuyện tấm thẻ, chuyện cây đèn, chuyện cuốn sổ. Ông không ngạc nhiên. Ông nghe hết, mắt nhìn lên xà nhà, chỗ có một con thạch sùng đứng im. Rồi ông bảo tôi đỡ ông ngồi dậy. Lưng ông chỉ còn da bọc xương sống, nóng hầm hập.
"Mày có biết vì sao người ta xây tường sớm thế không."
Tôi bảo vì cháy, vì khí. Ông lắc đầu, chậm rãi.
Ông kể. Ngày thứ hai sau vụ nổ, đội ông đào vào được gần đến miệng ngách sập. Đất đá chèn kín, vì chống gãy như que diêm. Khí đo được cao, cứ đào một lúc lại phải lùi ra. Gần nửa đêm, ông nằm áp mặt vào đống đá để nghe, thì thấy một thứ.
Một chút sáng. Rất nhỏ, vàng đục, lọt qua kẽ đá như ánh đèn dầu qua khe vách. Nó sáng một lúc, rồi tắt. Rồi lại sáng. Không đều, như người bật rồi tắt cho đỡ hao điện.
"Nó còn sống, Vượng ạ. Nó tiết kiệm ắc quy. Thợ lò nào cũng được dạy thế."
Ông gọi cả đội đến xem. Ai cũng thấy. Họ báo lên.
Sáng hôm sau, anh Bính tự xin ra viện, tay còn quấn băng, xuống tận chỗ đội cấp cứu. Anh nằm áp mặt vào kẽ đá ấy rất lâu. Rồi anh đứng dậy bảo, ánh đèn của chính các anh hắt vào than bóng thôi, không có ai. Anh bảo khí đang lên, lửa đang lan về phía này, đào tiếp là chết cả đội.
"Nó là tổ trưởng, nó là người cuối cùng thấy thằng Kiên. Nó bảo không có ai thì giám đốc tin."
Ông Thự cãi. Ông bị điều sang trực trạm bơm ngay tuần ấy. Tường xây xong ngày thứ tư. Trước khi ông đi, anh Bính có đến, mang theo hai tút thuốc lá, dặn ông đừng kể lung tung, kẻo gia đình người chết khổ thêm.
Tôi ngồi im. Bên ngoài một đoàn tàu than chạy qua, cả gian nhà rung lên, cái cốc chè trên bàn run lạch cạch. Ông Thự đợi tàu qua hẳn mới nói tiếp.
"Còn cái vỏ bao Điện Biên. Mày có nhớ thằng Kiên hút thuốc gì không."
Tôi nhớ. Kiên chỉ hút thuốc lào, thuốc Tiên Lãng, mỗi lần về quê lại xách ra một bọc. Kiên chê thuốc lá điếu đắt, hút như hút gió. Tôi chưa bao giờ thấy Kiên cầm một điếu Điện Biên. Người hút Điện Biên trong tổ chỉ có một.
Mười hai năm tôi biết điều ấy. Mười hai năm tôi không ghép nó với tờ biên bản. Tôi ngồi đó, tay đặt trên đầu gối, thấy hai bàn tay mình nặng như hai cục than.
Ông Thự nhìn tôi, không trách. Ông bảo, mày không phải đứa đầu tiên ngồi đây hỏi chuyện này.
"Con vợ nó đến. Năm nào cũng đến, ngày giỗ thằng Kiên. Mang cho tao gói cam, ngồi nghe tao kể lại, có năm khóc, có năm không."
Tôi hỏi chị Lụa có biết chuyện ánh đèn không. Ông gật. Ông bảo chị đã viết đơn, đơn lên phòng tổ chức, phòng tổ chức chuyển sang công đoàn, công đoàn chuyển lại cho phó giám đốc kỹ thuật, tức là anh Bính. Rồi thôi.
"Tháng trước nó đến, không phải ngày giỗ. Nó hỏi tao kỹ lắm. Ngách ấy cách tường chắn bao nhiêu mét, lệch trái hay lệch phải, đào từ phía nào thì gần nhất. Tao vẽ cho nó cả cái sơ đồ trên vỏ bao xi măng."
Tôi nghe, và tôi nghĩ một người vợ góa mười hai năm thì có quyền hỏi những câu ấy. Tôi không nghĩ gì xa hơn. Bây giờ kể lại, tôi mới thấy mình đã đứng sát cạnh câu trả lời mà không nhìn.
Lúc tôi đứng dậy về, ông Thự túm lấy cổ tay tôi. Tay ông khô và nóng, nắm chặt hơn tôi tưởng. Ông kéo tôi cúi xuống, nói sát vào tai, hơi thở ông có mùi thuốc ho và mùi đất.
"Tường chắn ở mức âm năm mươi, đầu lò dọc vỉa cũ. Xây vội, vữa không đủ, nó nứt lâu rồi. Đêm nào khí lên, mày đứng đấy mà xem."
Tôi hỏi xem cái gì. Ông buông tay tôi ra, nằm vật xuống, nhắm mắt.
"Xem cái đèn. Tao nghĩ nó vẫn chưa tắt hẳn."