☾ Truyện Ma Có Thật
← Thẻ đèn lò số mười bảy

Chương 6: Tường chắn mức âm năm mươi

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Tôi xuống tường chắn vào đêm thứ Sáu tuần ấy. Ca ba làm ở lò chợ số hai khu Tây, cách đầu lò dọc vỉa cũ của khu Đông chừng bốn trăm mét đường lò. Giữa ca, tôi giao lại cho lão Cường, bảo đi kiểm tra thông gió. Lão nhìn tôi, nhìn cái máy đo khí tôi đeo trước ngực, không hỏi gì. Lão chỉ dúi vào túi áo tôi một nhúm gạo muối.

Đường sang khu Đông là một nhánh lò cũ, đường ray goòng đã gỉ, tà vẹt mục, nước đọng ngập mắt cá. Ở đây không có người làm, gió lò chỉ lùa qua lấy lệ, không khí đặc và ẩm. Vì chống bằng gỗ hai bên đã mọc một lớp nấm trắng, ánh đèn rọi vào lấp lánh như sương muối. Tôi đi chậm, mỗi bước lại nhấc ủng lên khỏi bùn nghe một tiếng mút.

Càng vào sâu, tiếng nước nhỏ từ nóc lò thưa dần. Đến một khúc thì hết hẳn. Tôi dừng lại. Ở dưới lò lâu, người ta quen với tiếng nước nhỏ như quen với tiếng tim mình. Nó tắt đi thì tai mình ù lên, như bị ai bịt.

Tường chắn hiện ra ở cuối đường ray. Gạch chỉ xây hai lớp, trát vữa xi măng đã ngả xám đen. Trên mặt tường có hàng chữ quét bằng sơn đỏ, nét chảy: "Cấm vào. Bịt ngày 24 tháng 3 năm 1987." Dưới hàng chữ, có ai đó cắm ba nén hương đã cháy hết, chân hương cắm vào một khe gạch. Hương thợ lò thắp, tôi đoán, những người như lão Cường.

Vết nứt chạy chéo từ góc trên bên trái xuống giữa tường, chỗ rộng nhất lọt vừa một ngón tay. Tôi rọi đèn vào. Chỉ thấy bóng tối, và một lớp bụi đá mịn bám ở mép khe.

Máy đo khí trên ngực tôi nhích lên một vạch. Rồi một vạch nữa. Vẫn dưới ngưỡng, nhưng đang lên. Tôi nghĩ đến lời ông Thự, đêm nào khí lên thì đứng đấy mà xem. Tôi đứng.

Rồi tôi làm một việc mà mười tám năm đi lò tôi chưa từng làm. Tôi tắt đèn trên mũ.

Bóng tối dưới lò không giống bóng tối trên mặt đất. Trên mặt đất, có trăng, có sao, có ánh đèn nhà ai ở xa, mắt mình quen dần rồi cũng thấy lờ mờ. Dưới lò, tắt đèn là mất hẳn. Mở mắt hay nhắm mắt như nhau. Tôi nghe tiếng thở của chính mình, nghe tiếng máu chảy trong tai. Tôi đứng đó, tay phải chống vào vách, đếm hơi thở để khỏi bật đèn lên.

Lâu lắm. Tôi không biết bao lâu.

Rồi trong vết nứt có một chút sáng.

Vàng đục, mờ, không phải ánh trắng của đèn ắc quy bây giờ. Nó hiện lên ở chỗ khe rộng nhất, như có ai đặt một cây đèn sau bức tường, cách vài bước chân.

Nó sáng một lúc, rồi tắt. Tôi nín thở. Nó sáng lại, lâu hơn, rồi tắt. Không theo nhịp nào cả, như tay người bật tắt, ngập ngừng, như người đang tính xem còn bao nhiêu điện.

Tôi không chạy. Tôi muốn chạy mà chân không nhấc lên được, ủng như bị bùn hút chặt. Tôi đưa tay ra, chạm vào mép khe nứt. Vữa ở đó ấm. Không nóng như chỗ có lửa ngầm, chỉ ấm, cái ấm tôi đã biết, cái ấm của tấm thẻ đồng trong lòng bàn tay.

"Kiên."

Tôi gọi, giọng khản đặc. Tôi không định gọi. Tiếng tôi đập vào vách đá rồi tắt ngay, không vọng.

Ánh sáng trong khe đứng yên. Lần này nó không tắt. Nó sáng lâu, rất lâu, lâu đến mức tôi thấy được cả bàn tay mình đặt trên tường, những ngón tay đen bụi than, và bên dưới, mấy chân hương. Rồi nó lịm dần, không tắt phụt như bị bấm, mà lịm như ắc quy cạn hết.

Tôi bật đèn trên mũ. Đèn không sáng.

Tôi bấm lại. Bấm lần nữa. Công tắc vẫn kêu tách tách dưới ngón tay, nhưng bóng đèn chết. Tôi đứng trong bóng tối đặc, trước bức tường, và lần đầu tiên tôi nghĩ có lẽ mình sẽ không ra khỏi chỗ này.

Tôi quỳ xuống, sờ tìm đường ray. Thanh ray lạnh, gỉ ráp. Tôi lần theo nó mà đi, một tay trên ray, một tay trên vách, chậm như người mù. Bốn trăm mét. Tôi không nhớ mình mất bao lâu. Chỉ nhớ đến chỗ nước nhỏ từ nóc lò rơi trở lại xuống mũ tôi, tôi đã khóc, khóc không thành tiếng, như thằng Toản hôm trước.

Đến ngã ba gặp ánh đèn của lão Cường đi tìm, đèn trên mũ tôi tự sáng lên. Không ai bấm.

Gần sáng, lên phòng đèn, tôi trả đèn. Chị Lụa cầm cây đèn của tôi, lật đi lật lại, rồi nhìn vai áo tôi. Trên vai áo bảo hộ đen kịt có một vệt bụi vữa trắng xám, chỗ tôi tựa vào tường.

"Anh xuống tường chắn à."

Tôi gật. Chị hỏi tôi có thấy gì không. Tôi kể cái ánh sáng trong khe nứt. Tôi tưởng chị sẽ khóc, hoặc sẽ gật đầu như người đã biết.

Chị không làm thế. Mặt chị trắng ra, trắng đến môi. Tay chị buông cây đèn xuống bàn đánh cộp một tiếng. Chị ngồi sụp xuống ghế, nhìn tôi như nhìn một người lạ vừa nói một câu không ai dạy.

"Thế là nhà em còn ở đấy thật à anh."