Chương 7: Lá đơn của ca ba
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Lão Cường kể chuyện tôi ở tường chắn cho cả ca nghe, chỉ trong một bữa cơm nắm. Đến tối hôm sau, cả khu Tây đã biết. Đến tối hôm sau nữa, chợ Cột Năm biết.
Người ta kể rằng trưởng ca Vượng xuống tận lò cũ, gọi tên thằng Kiên, đèn chết, phải bò ra. Mỗi người kể thêm một chút. Có người bảo tôi bị kéo chân. Có người bảo tôi về nhà nằm sốt ba ngày.
Thứ Hai, tổ khoan của khu Đông mới không chịu xuống. Mười bốn thằng, đứa nào cũng đứng trước phòng đèn, không lĩnh đèn. Chúng nó bảo chưa đưa anh Kiên lên thì chưa ai đào cạnh chỗ anh ấy nằm. Thằng trẻ nhất mười chín tuổi, bằng tuổi tôi ngày vào mỏ, nói câu ấy mà mặt đỏ gay, như nói một câu nó học thuộc.
Đến thứ Ba thì ca ba của tôi cũng đứng lại. Lão Cường dẫn đầu. Lão bảo anh Vượng viết đơn đi, anh em ký.
Tôi viết đơn trên cái bàn gỗ trong phòng giao ca, bằng cây bút bi mượn của chị Lụa. Tôi không giỏi chữ. Tôi viết như kể, viết lại vụ nổ, lời ông Thự về ánh đèn trong kẽ đá, chuyện bao thuốc Điện Biên. Viết đến đoạn tờ biên bản năm 1987, tôi dừng lại lâu. Rồi tôi viết thêm một dòng: người ký tên dưới đây từng làm chứng sai, nay xin khai lại.
Ba mươi hai người ký. Lão Cường ký thứ hai, ngay dưới tên tôi. Chữ lão to, run, đè thủng cả giấy.
Ông giám đốc mới, ông Hào, người Hà Nội, kỹ sư mỏ học bên Ba Lan về, gọi tôi lên phòng sáng thứ Năm. Phòng giám đốc có máy lạnh, cửa kính, mùi sáp thơm xịt phòng. Anh Bính đã ngồi đó, trên ghế bành, lá đơn của chúng tôi đặt trên đùi.
Ông Hào hỏi tôi có tin chuyện ma không. Tôi bảo tôi không biết. Tôi chỉ biết anh em không chịu xuống, và tôi cũng không muốn đào lò mới cạnh một người chưa được đưa lên.
Anh Bính cười, cái cười mỏng.
"Anh Hào thấy đấy. Mười hai năm rồi, giờ có cái thẻ đồng ở đâu treo lên, cả mỏ đình công. Mình mà chiều cái mê tín này, mai kia có người treo cái khác."
Ông Hào hỏi anh Bính đào vào ngách cũ thì nguy hiểm thế nào. Anh nói một tràng về khí, về áp lực nóc, về đá vách mềm. Anh nói đúng, nói giỏi, như người làm kỹ thuật cả đời. Nhưng tay phải anh, cái bàn tay da bóng, cứ đặt lên lá đơn rồi nhấc ra, đặt lên rồi nhấc ra.
Ông Hào quay sang tôi. Ông hỏi nếu đào, ai dẫn đội.
Tôi bảo tôi.
Ông Hào nhìn tôi rất lâu. Rồi ông gật. Ông bảo sẽ cho đội cấp cứu mỏ xuống trước đo khí, gia cố, nếu an toàn thì đào thăm dò vào ngách sập, có cán bộ an toàn đi kèm, tối đa hai tuần. Anh Bính đứng dậy, định nói gì, rồi thôi. Anh để lá đơn lên bàn ông Hào, đi ra, cửa kính đóng sau lưng không một tiếng động.
Anh đợi tôi ở chân cầu thang. Hành lang vắng. Anh túm lấy cánh tay tôi, đúng chỗ ông Thự túm hôm trước, nhưng tay anh lạnh và ướt mồ hôi.
"Thằng Thự nó nói gì với mày."
Tôi không đáp. Anh ghé sát mặt tôi. Hơi thở anh có mùi chè và mùi kẹo bạc hà, thứ người ta ngậm cho quên thuốc.
"Mày cũng ký đấy, Vượng. Lật lại thì không phải mình tao."
Tôi gỡ tay anh ra. Tôi bảo tôi biết. Tôi bảo đơn tôi đã viết rồi, dòng ấy tôi viết rồi. Anh nhìn tôi, và tôi thấy trong mắt anh không phải giận. Là sợ. Một thứ sợ cũ, mòn nhẵn, như đã ở đó lâu đến mức thành một phần cái mặt.
"Trong đấy chẳng còn gì đâu. Xương cũng mục rồi."
Anh nói câu ấy, rồi quay đi. Tôi đứng lại ở chân cầu thang, nghĩ mãi một điều. Người ta chỉ nói "chẳng còn gì" khi người ta sợ còn một thứ gì đó.
Tối ấy, tôi qua phòng đèn báo tin cho chị Lụa. Chị đang lau đèn, như mọi đêm. Tôi bảo mỏ cho đào rồi, hai tuần. Chị đặt cây đèn xuống, hai tay chống lên bàn, cúi đầu thật thấp, lâu như người vái. Rồi chị ngẩng lên, mắt khô, hỏi tôi một câu.
"Hôm đào, em ra cửa lò đợi được không anh."
Tôi bảo được. Đàn bà không được xuống lò, đó là lệ của thợ mỏ từ thời Tây, nhưng ra cửa lò đứng đợi thì không ai cấm.
Ca ấy là ca cuối tôi làm ở khu Tây trước khi sang đội đào. Gần sáng lên, tôi đứng trước bảng thẻ như thói quen. Cột "trong lò" trống. Cái móc gỉ ở góc trên cùng cũng trống. Mười chín ngày, đây là sáng đầu tiên tấm thẻ đồng không có ở đó.
Tôi đáng lẽ phải thở ra. Nhưng tôi đứng đó, nhìn cái móc trống, và thấy lạnh hơn mọi lần. Như thể người treo nó đã nhận được câu trả lời mình chờ, và không cần hỏi nữa.