Chương 8: Chín ngày đào ngách
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Đội cấp cứu mỏ phá tường chắn vào sáng thứ Hai đầu tháng Mười. Họ đục một lỗ nhỏ trước, luồn ống đo khí vào, đợi nửa ngày. Khí cao nhưng không quá ngưỡng. Họ cho quạt cục bộ thổi gió vào suốt hai mươi bốn giờ, rồi mới phá cả mảng. Gạch đổ xuống bùn, bụi vữa bốc lên trắng xóa trong ánh đèn. Không có gì sau tường, chỉ có đường lò cũ tối om, vì chống cháy xém đen, mùi đá nung lâu năm.
Tôi dẫn đội đào, tám người, toàn thợ cũ tình nguyện. Lão Cường đi. Thằng Toản cũng xin đi, mặt nó vẫn tái nhưng nó bảo em sợ thì em càng phải đi, không thì cả đời em sợ. Cán bộ an toàn đi kèm là anh Lâm, ba mươi tuổi, người Hải Phòng, mang theo một cuốn sổ to và một cái thước dây.
Chúng tôi làm ca ba, vì ca ba ít người, khí ổn hơn. Mỗi đêm đào vào được ba bốn mét. Đất đá chèn chặt, có tảng to bằng cái bàn, phải chèn kích tay đẩy ra từng chút. Cứ một mét là dựng một vì chống mới, gỗ thông tươi, mùi nhựa thơm lạ lùng giữa mùi đá cháy.
Đêm nào chị Lụa cũng ra cửa lò.
Chị không đứng sát. Chị đứng ở chỗ mái tôn che cửa lò bằng, cạnh cái bàn gác của tổ bảo vệ. Chị mặc áo bông, đội nón, tay xách một cái cặp lồng và một cái phích.
Lúc chúng tôi vào, chị gật đầu với từng người. Lúc chúng tôi ra, chị đưa cho mỗi đứa một cốc chè nóng. Chị không hỏi đào được bao nhiêu. Chị chỉ nhìn mặt tôi, rồi tự biết.
Tôi để ý chị hay đặt tay lên túi áo ngực bên trái, ấn nhẹ, như người giữ một thứ sợ rơi. Tôi nghĩ đó là cái ảnh của Kiên. Người góa vẫn hay mang ảnh chồng như thế.
Đêm thứ ba, anh Lâm bắt đầu ghi chép kỹ. Anh đo từng vì chống cháy, xem mặt cháy quay về hướng nào, xem vết muội trên nóc lò dày mỏng ra sao. Anh vẽ vào sổ những mũi tên nhỏ. Tôi hỏi anh làm gì. Anh bảo lửa nổ đi từ một tâm, đốt cái gì cũng để lại hướng. Đọc hướng thì biết tâm ở đâu.
Đêm thứ năm, đá vách bên phải bong ra một mảng bằng cái nong. Thằng Toản đứng gần nhất. Lão Cường giật nó ngã ngửa ra sau.
Mảng đá rơi xuống chỗ nó vừa đứng, vỡ làm ba. Không ai bị gì, chỉ có cái máy đo khí của thằng Toản bị đá đè bẹp. Nó ngồi bệt trong bùn, nhìn cái máy, rồi cười, cười mãi không dừng được. Lão Cường tát nó một cái, nó mới thôi.
Đêm ấy lên, tôi thấy một chiếc xe com-măng-ca đỗ ở bãi đất trống đối diện cửa lò, tắt đèn. Trong xe có một đốm đỏ lập lòe, rồi tắt. Rồi lại một đốm đỏ. Xe nổ máy đi khi trời vừa rạng. Bảo vệ bảo đấy là xe của phó giám đốc kỹ thuật, đêm nào cũng đến, đỗ vài tiếng rồi về.
Đêm thứ bảy, anh Lâm gọi tôi lại một góc, chỗ có cái ngách cụt nhỏ phía bên phải lò chợ cũ. Ngách ấy sâu chừng ba mét, cụt, hồi trước để chứa gỗ chống. Tôi nhận ra nó ngay.
Đó là chỗ anh Bính hay lẩn vào lúc nghỉ ca. Anh Lâm rọi đèn lên nóc ngách. Muội than ở đây dày nhất, đen bóng như sơn mài. Mấy vì chống đầu ngách cháy trụi đến lõi.
"Tâm nổ ở đây, anh Vượng. Không phải ở ngách sập bên trái. Cách nhau hơn hai chục mét."
Tôi hỏi anh có chắc không. Anh gật, chỉ cho tôi những mũi tên trong sổ, tất cả cùng chĩa về cái ngách cụt ấy, như một bầy kim la bàn. Anh bảo năm 1987 đoàn điều tra không vào được tới đây vì lửa, họ chỉ đứng ở xa mà đoán. Anh bảo, giọng hơi run, người ta kết luận theo lời khai.
Tôi không nói gì. Tôi nhìn cái ngách cụt nhỏ, và thấy anh Bính ba mươi lăm tuổi đứng quay mặt vào vách, khum tay che cái bật lửa, đúng cái dáng tôi đã thấy không biết bao nhiêu lần.
Đêm thứ chín, chúng tôi đào đến miệng ngách sập bên trái.
Ngách ấy hồi trước là lò khấu, Kiên làm ở đó cùng thằng Hòa. Đá sập lấp kín miệng, nhưng càng vào trong, đá càng thưa. Đến gần sáng, thanh xà beng của lão Cường bỗng thụt vào khoảng không. Một luồng khí lạnh, cũ, mùi đất ẩm và mùi gỉ sắt phả ra qua cái lỗ bằng nắm tay.
Anh Lâm đưa ống đo khí vào trước. Đợi. Gật đầu. Chúng tôi nới rộng cái lỗ, từng viên đá một, không ai nói câu nào. Đến khi lỗ đủ rộng cho một cái đầu, tôi chui vào trước, đèn trên mũ rọi thẳng.
Bên trong là một khoảng trống nhỏ, chỉ đủ một người ngồi co chân, giữa hai cây vì chống còn đứng vững. Nóc thấp sát đầu. Bụi phủ mọi thứ một lớp xám mịn như tro.
Ánh đèn của tôi chạm vào một vật tròn, bóng, nằm ở góc trong cùng. Một cái chao đèn mỏ kiểu cũ, sắt sơn đen. Nó quay về phía cửa ngách, phía tường chắn, như vẫn đang chờ có ai rọi lại.