Chương 2: Hũ sành chôn ngược
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Đào móng mất bốn ngày. Anh Thịnh thuê thêm ba người làm, đào tay bằng cuốc chim và xẻng, vì vườn Cả có nhiều rễ nhãn, máy xúc vào thì làm hỏng gốc cây. Tôi xin nghỉ phép hai ngày để trông, chủ yếu là đun nước pha chè và chạy đi mua thuốc lá cho thợ.
Ngày thứ ba, họ đào đến đường móng tường giữa.
Đất ở khoảnh trọc khác hẳn. Bên ngoài là đất thịt nâu, ẩm, có giun. Vào đến mép khoảnh ấy thì đất chuyển sang màu xám trắng, mịn và nhẹ như vôi cũ, xẻng xúc lên thì tơi ra thành bụi. Một người thợ trẻ đùa rằng chỗ này ngày xưa chắc là bãi tro hoả táng. Không ai cười theo.
Đào xuống chừng tám mươi phân thì lưỡi xẻng của anh Thịnh chạm vào cái gì cứng. Tiếng kêu đục, không phải tiếng sắt chạm đá. Anh quỳ xuống, gạt đất bằng tay.
Đấy là một cái hũ sành nâu, cỡ cái hũ muối dưa, cao chừng hai gang tay. Nó nằm úp ngược, miệng hũ cắm xuống đất, đáy chổng lên trời. Miệng hũ bịt kín bằng một lớp đất sét đã khô cứng lại như đá ong.
* * *
Mấy người thợ lùi ra khỏi hố. Anh Thịnh vẫn quỳ, tay dính đầy đất xám. Anh làm thợ hai mươi năm, đào móng khắp mấy huyện quanh đây, gặp xương người, gặp tiểu sành, gặp cả bom bi. Nhưng anh bảo tôi về sau rằng anh chưa thấy cái hũ nào chôn ngược.
"Chôn úp thế này là ếm đấy. Người ta yểm cái gì dưới này."
Anh vừa nói vừa nhìn tôi. Rồi anh nhìn ra sau lưng tôi.
Bố tôi đứng ở bờ hố từ lúc nào không biết. Bố đi từ nhà xuống, chân vẫn đi đôi dép tổ ong, áo may ô bạc màu. Mặt bố không có màu gì cả.
"Đừng mở."
Bố nói hai chữ ấy trước khi ai kịp hỏi đấy là cái gì. Nhưng anh Thịnh đã nhấc cái hũ lên và lật ngửa nó ra. Lớp đất sét bịt miệng đã nứt sẵn một đường từ trước, khi anh nhấc lên thì nó vỡ ra làm ba mảnh rơi xuống đáy hố.
* * *
Anh Thịnh trút đồ trong hũ ra cái nắp xô nhựa.
Có ba cây đinh đồng dài chừng một đốt tay, đầu bẹt, thân vuông cạnh, đã xỉn xanh. Có một nắm tóc người, đen lẫn vài sợi bạc, rối vào nhau thành một búi chặt như tổ chim, không thể gỡ ra được. Và có một tờ giấy đỏ gấp làm tư, ẩm mủn ở mép nhưng giữa vẫn còn nguyên.
Anh Thịnh không dám mở tờ giấy. Tôi mở.
Trên giấy có mấy hàng chữ nho viết bằng mực tàu, tôi không đọc được. Ở giữa, viết to hơn, bằng chữ quốc ngữ, là một cái tên và một năm sinh.
Đỗ Văn Lâm. Canh Tý.
Đấy là tên bố tôi. Năm 1960, đúng năm bố tôi sinh.
Tôi đọc to lên, không phải vì muốn mà vì miệng tôi tự đọc. Mấy người thợ quay sang nhìn bố tôi. Bố đứng yên ở mép hố, hai tay buông xuôi.
* * *
Sau này tôi nghĩ lại cảnh ấy nhiều lần. Có một điều lúc đó tôi không để ý, mãi về sau mới thấy lạ.
Bố tôi không hỏi ai làm.
Người bình thường thấy tên mình nằm dưới đất trong một cái hũ ếm thì phải hỏi. Ai chôn, chôn bao giờ, nhằm vào mình vì sao. Mẹ tôi nghe chuyện chạy xuống, mẹ hỏi liên tục những câu ấy, hỏi anh Thịnh, hỏi tôi, hỏi cả mấy người thợ. Bố tôi thì không. Bố chỉ cúi xuống, nhặt từng thứ bỏ lại vào hũ, tờ giấy gấp lại theo đúng nếp cũ, rồi ôm cái hũ vào bụng.
"Để bố mang lên chùa nhờ sư giải. Chúng mày cứ làm tiếp đi."
Bố ôm cái hũ đi về. Tôi nhìn theo lưng bố. Bố đi qua khoảnh đất trọc, lần này không vòng.
Có một điều nữa. Lúc tôi đọc tên trên tờ giấy, nét chữ làm tôi chột dạ mà không hiểu vì sao. Chữ Đỗ viết có cái móc dài ở dấu ngã, kéo vắt sang tận chữ bên cạnh. Tôi đã thấy cái móc ấy ở đâu đó. Lúc ấy tôi không nhớ ra.
* * *
Chiều hôm ấy bố đi xe đạp lên chùa xã. Bố về khi trời đã nhá nhem, không nói gì, ăn hai lưng bát cơm rồi đi nằm.
Nửa đêm tôi tỉnh giấc vì một mùi khét.
Mùi tóc cháy, đúng cái mùi ở lễ động thổ, nhưng lần này đặc hơn, gắt hơn, như có người đang hơ cả một búi tóc trên lửa ngay ngoài cửa sổ. Tôi bật dậy, mở cửa ra sân. Sân tối, trăng hạ tuần mỏng như móng tay. Cuối sân, cạnh chuồng lợn, có một đống lửa nhỏ, và bố tôi ngồi xổm cạnh đấy.
Tôi gọi. Bố không quay lại.
Tôi bước tới. Đống lửa là một ít rơm, đã gần tàn. Trên than hồng không có gì cả, không có giấy, không có tóc. Vậy mà mùi khét vẫn bốc lên, đặc quánh, đọng lại trong cổ họng tôi.
"Bố đốt gì thế?"
"Đốt rơm cho ấm."
Bố đứng dậy đi vào nhà. Tháng Ba trời đã ấm từ lâu.
Sáng hôm sau mẹ tôi gỡ màn, gấp chăn trên giường bố mẹ. Mẹ cầm cái gối của bố lên, rồi đứng sững lại. Trên vỏ gối, chỗ đầu bố nằm, có một búi tóc. Không phải mấy sợi rụng lác đác như người ta vẫn rụng. Một búi tóc đen lẫn bạc, rối chặt vào nhau thành một nắm tròn, như ai đã vò nó trong lòng bàn tay cả đêm.