Chương 4: Câu hát bỏ dở
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Tôi tìm thấy bố ở vườn Cả, lúc trời vừa rạng.
Sương đọng trắng trên mấy chồng gạch. Tường bao đã lên được ngang thắt lưng, trông như một cái nền mộ to. Bố tôi ngồi bệt trên mặt móng tường giữa, ngay cạnh vệt ẩm, hai chân duỗi thẳng. Cái hũ sành đặt úp ngược trước mặt bố, đúng vào giữa vệt.
Bố đang hát.
Bố tôi cả đời không hát. Đám cưới, đám giỗ, hội làng, ai mời cũng lắc đầu. Vậy mà sáng hôm ấy bố hát, giọng khàn đục, hơi đứt quãng vì ho, nhưng đúng làn điệu.
"Người ơi người ở đừng về..."
Đến đấy thì bố dừng. Bố ngồi im như đang chờ người khác hát tiếp vế sau. Không ai hát. Bố lại bắt đầu từ đầu, lại dừng ở đúng chỗ ấy.
* * *
Tôi ngồi xuống cạnh bố. Mặt bê tông lạnh buốt qua lớp quần. Tôi hỏi bố ra đây từ bao giờ, bố bảo không nhớ. Tôi hỏi sao bố mang cái hũ ra, bố nhìn cái hũ như mới thấy nó lần đầu.
"Bác mày hát câu ấy hay lắm. Cả làng không ai hát được như bác."
Tôi biết bố có một người anh trai, là bác Tùng, chết khi tôi còn chưa đầy năm tuổi. Tôi chỉ nhớ lờ mờ một người đàn ông cao, tóc dày, hay bế tôi lên vai. Ở nhà ít ai nhắc đến bác. Ảnh bác không đặt trên bàn thờ nhà tôi, vì bác là chi trưởng, giỗ bác làm bên nhà bác gái.
Tôi dìu bố về. Bố nhẹ bẫng, nhẹ như một bó rạ.
* * *
Chiều hôm ấy tôi sang nhà cụ Khiêm.
Cụ Khiêm năm ấy tám mươi ba tuổi, ngày trước là trùm phường quan họ của làng, giờ mắt kém, tai còn thính. Cụ ngồi trên cái chõng tre ở hiên, ăn trầu, bên cạnh có cái ống nhổ bằng đồng. Tôi mang biếu cụ cân chè Thái. Cụ nghe tôi kể chuyện cái hũ, không ngắt lời câu nào, chỉ nhai trầu chậm lại.
Khi tôi kể đến câu hát của bố, cụ ngừng hẳn.
"Câu ấy là câu thằng Tùng nó hát lần cuối ở hội đình. Năm chín hai. Hát đến đấy thì nó ho, không hát tiếp được nữa."
Cụ nhổ bã trầu vào ống nhổ, lau miệng bằng mu bàn tay.
"Liền anh làng mình từ thời cụ tổ đến giờ, chưa ai giọng như nó. Hồi ấy các liền chị làng bên sang hát đối, cứ nghe nó cất giọng là lặng cả đình."
* * *
Tôi hỏi bác Tùng chết vì bệnh gì. Cụ Khiêm nhìn ra ngõ một lúc rồi mới nói. Bác ốm hơn một năm. Ban đầu chán ăn, rồi gầy, rồi rụng tóc từng mảng, ho khan suốt đêm. Lên huyện, lên tỉnh, chẳng ai bảo được bệnh gì. Tháng Chạp năm chín ba bác mất, lúc mới ba mươi tám tuổi.
Tôi ngồi im. Tay tôi tự nhiên lạnh dần từ đầu ngón.
"Cụ ơi, thế đất vườn Cả..."
"Đất ấy là đất của chi trưởng. Ông nội mày mất năm chín mốt, không để lại giấy tờ gì. Theo lệ thì về tay thằng Tùng. Nhưng thằng Lâm bố mày nó không chịu."
Tôi chưa từng nghe chuyện này. Cụ Khiêm kể, bố tôi hồi ấy làm thợ gò đồng ở Đại Bái, có tiền hơn bác, góp nhiều nhất lúc ông nội ốm. Bố bảo đất phải chia đôi. Bác không chịu, bác bảo đất hương hoả không chia. Hai anh em to tiếng với nhau mấy lần, có lần ở ngay sân đình, cả làng nghe thấy.
"Anh em như thể tay chân. Mà tay chân nó cũng có lúc đá nhau, con ạ."
Cụ nói câu ấy chẳng có ý gì, rồi lại têm một miếng trầu khác.
* * *
Tôi hỏi sau khi bác mất thì đất thế nào. Cụ bảo bác gái Thoa ở vậy được hai năm, rồi đem con gái về bên ngoại ở làng Mộc Thượng, cách đây hai cánh đồng. Đất vườn Cả bỏ không từ đấy. Người làng hiểu ngầm là về tay bố tôi, nhưng hai mươi năm nay bố không động một hòn gạch.
"Ai cũng tưởng bố mày thương anh, không nỡ. Tao thì không nghĩ thế."
"Thế cụ nghĩ thế nào ạ?"
Cụ Khiêm không trả lời câu ấy. Cụ hỏi lại tôi một câu khác.
"Cái hũ ấy chôn úp, có ba cây đinh, có tóc. Tên trên giấy là tên ai?"
"Tên bố cháu ạ. Đỗ Văn Lâm."
Cụ Khiêm nhíu mày. Hàm cụ thôi nhai. Cụ nhìn tôi rất lâu bằng đôi mắt đục như nước vo gạo.
"Hũ úp ngược là ếm cho người nằm xuống không dậy được. Ba cây đinh là đóng vào đầu, vào ngực, vào chân. Tóc là tóc của chính người bị ếm, phải người thân lắm mới lấy được."
Cụ ngừng một lúc. Ngoài ngõ có tiếng xe đạp lạch cạch đi qua.
"Mà tên là tên thằng Lâm à? Thế thì lạ thật."
Tôi hỏi lạ ở chỗ nào. Cụ Khiêm lắc đầu, khoát tay bảo tôi về đi, trời sắp tối. Lúc tôi đã ra đến cổng, cụ gọi giật lại, giọng nhỏ hẳn.
"Mày sang hỏi bác gái mày xem. Nó biết. Mà mày đừng nói với bố mày là tao bảo."
Tôi đi về theo lối sau đình. Qua vườn Cả, tôi thấy cái hũ vẫn úp trên vệt ẩm, chỗ bố để sáng nay. Không ai dám động vào nó. Gió chiều thổi qua mấy bức tường xây dở, rít khẽ qua khe gạch, nghe như ai đang ngân nốt cuối của một câu hát chưa xong.