Chương 5: Hòm đồ nghề cũ
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Làng Mộc Thượng cách làng tôi hai cánh đồng và một con mương. Tôi đi xe máy, chạy chậm trên bờ vùng, lúa chiêm đang thì con gái, xanh mượt đến tận chân đê. Tôi chưa sang nhà bác gái lần nào từ khi lớn. Ngày giỗ bác, bố tôi đi một mình, về rất muộn, người nồng mùi rượu.
Nhà bác gái là ba gian nhà ngói cũ, sân gạch có giàn mướp. Chị Thắm con gái bác ra mở cổng, đứng nhìn tôi một lúc mới nhận ra. Chị hơn tôi sáu tuổi, đã có chồng, chồng đi làm xa. Chị bảo bác đang ở sau vườn, rồi gọi vọng ra một tiếng, giọng không vui không buồn.
Bác gái Thoa năm ấy năm mươi lăm, người nhỏ, lưng hơi còng, tóc búi gọn sau gáy. Bác bưng ra một ấm chè vối, rót cho tôi một bát, rồi ngồi đối diện. Bác không hỏi tôi sang làm gì. Bác nhìn tôi như đã biết trước thế nào hôm nay cũng có người sang.
* * *
Tôi kể chuyện cái hũ. Bác gái nghe, tay vẫn mân mê cái nắp ấm. Đến khi tôi nói tên trên giấy là tên bố tôi, tay bác dừng lại.
"Tên chú Lâm à?"
"Vâng."
Bác gái im một lúc lâu. Rồi bác cười, một cái cười nhỏ, khô, không có tiếng.
"Thế thì trời có mắt."
Tôi hỏi bác thế là thế nào. Bác không đáp ngay. Bác rót thêm chè vào bát tôi dù bát còn đầy, nước tràn ra mặt bàn. Bác lấy vạt áo lau đi, lau mãi một chỗ đã khô.
"Năm anh Tùng ốm, ngày nào chú Lâm cũng sang. Sang ngồi đầu giường bóp đầu cho anh, gỡ tóc rụng cho anh. Bác còn cảm ơn chú. Bác bảo cả làng này không ai thương anh bằng chú."
Bác nói đến đấy thì thôi. Ngoài sân có con gà mái cục tác. Chị Thắm đứng ở cửa buồng, tay khoanh trước ngực, nhìn tôi chằm chằm.
* * *
Lúc tôi chào về, bác gái tiễn ra tận cổng. Bác đứng dưới giàn mướp, hỏi tôi một câu mà mãi về sau tôi mới thấy lạ.
"Bố mày rụng tóc à? Rụng thành búi phải không?"
Tôi chưa hề kể với bác chuyện tóc bố. Tôi gật đầu. Bác gái gật theo, chậm rãi, như người vừa nghe kể một chuyện mình đã biết từ lâu.
"Tết vừa rồi bác có sang vườn Cả. Thắp cho anh ba nén hương ở gốc nhãn. Hai mươi năm rồi, năm nào bác cũng sang. Có ai biết đâu."
Tôi muốn hỏi thêm nhưng chị Thắm đã ra kéo cánh cổng sắt. Tiếng bản lề rít lên. Chị nói với tôi, giọng nhỏ nhưng rõ từng chữ.
"Em về bảo bố em, mẹ chị không cần đất ấy nữa. Nhà em cứ xây. Xây cao vào."
* * *
Tôi về đến nhà lúc chập tối. Bố đã ngủ, mẹ đang đun nước trong bếp. Tôi không ăn cơm. Tôi trèo lên gác bếp.
Gác bếp nhà tôi là mấy tấm phên tre gác trên xà, đen kịt muội khói, để đồ cũ không dùng đến. Ở góc trong cùng có một cái hòm gỗ lim, khoá cái khoá đồng đã rỉ. Đấy là hòm đồ nghề bố mang về từ Đại Bái, từ hồi tôi còn bé. Bố không bao giờ mở nó ra. Mẹ có lần định bán cho đồng nát, bố gắt ầm lên.
Cái khoá rỉ quá, tôi lấy tua vít bẩy nhẹ là bung.
Trong hòm có mấy cái búa gò đầu tròn, một cái đe con, mấy cái kéo cắt tôn, một cuộn dây đồng. Có một quyển sổ bìa xanh ghi công thợ, giấy vàng ố. Và có một gói giấy dầu nhỏ, buộc bằng sợi lạt.
Tôi mở gói giấy dầu.
Bên trong là đinh đồng. Đầu bẹt, thân vuông cạnh, dài chừng một đốt tay. Đã xỉn xanh. Đúng như ba cây trong cái hũ. Tôi đếm, có mười hai cây, xếp thành bốn hàng ba. Hàng cuối chỉ còn ba cái lỗ trên tờ giấy dầu, nơi ba cây đinh từng được cắm vào. Ba cái lỗ trống trơn.
* * *
Tôi mở quyển sổ ghi công. Trang nào cũng có chữ bố, ghi ngày tháng, ghi số mâm đồng, số đỉnh, số lư hương đã gò. Đầu mỗi trang bố ký tên đầy đủ.
Đỗ Văn Lâm.
Chữ Đỗ có cái móc dài ở dấu ngã, kéo vắt sang tận chữ Văn.
Tôi nhớ ra mình đã thấy cái móc ấy ở đâu. Ở tờ giấy đỏ trong cái hũ. Tôi ngồi trên gác bếp, quyển sổ mở trên đầu gối, không nhúc nhích được. Mùi muội khói xộc vào mũi, và lẫn trong mùi muội khói là một mùi khác, khét và hăng, mà tôi đã biết tên.
Có tiếng thang tre kẽo kẹt bên dưới.
Tôi nhìn xuống. Bố tôi đứng ở chân thang, một tay vịn vào bậc thang thứ hai. Dưới ánh bóng đèn tròn của bếp, đầu bố trông lởm chởm, chỗ còn tóc chỗ trơ da, như một mảnh ruộng bị gặt dở.
Bố không quát. Bố chỉ nói rất khẽ, khẽ đến mức tôi tưởng mình nghe nhầm.
"Để đấy. Để đấy cho bố."