Chương 7: Hai lớp mực
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Bố nằm viện mười một ngày. Bác sĩ truyền đạm, truyền máu, chụp thêm một lần nữa, vẫn không tìm ra bệnh. Ngày thứ ba bố đã ngồi dậy được, nhưng cứ chiều xuống là sốt, đêm đến là ho. Mẹ tôi ở lại trông đêm, tôi đi làm về thì vào thay.
Cái hũ tôi không mang vào viện. Tôi chỉ mang tờ giấy đỏ, kẹp trong một quyển vở cũ của em Ngọc. Tối hôm ấy mẹ về nhà lấy quần áo, giường bên cạnh trống, chỉ còn hai bố con trong phòng. Tôi đặt quyển vở lên mép giường.
Bố mở quyển vở. Bố không mở tờ giấy ngay. Bố đặt bàn tay lên nó, bàn tay gầy trơ gân, có vết sẹo vảy cá, rồi bố bắt đầu kể. Giọng bố đều đều, như đọc lại một cái gì đã thuộc lòng.
* * *
"Năm chín hai, sau giỗ đầu ông nội. Bố với bác mày cãi nhau ở sân đình, trước mặt cả làng. Bác bảo bố là thằng thợ đồng, có tiền thì đi mà mua đất, đừng có tơ hào đất tổ."
"Bố uống rượu ba ngày. Rồi bố đi sang bên kia sông Đuống, tìm một ông đồ người ta mách. Bố mang theo hai chỉ vàng."
Ông đồ viết mấy dòng chữ nho trên giấy đỏ. Riêng cái tên thì ông bắt người cầu phải tự tay viết, bằng chữ của mình, ông bảo thế mới thiêng. Tóc thì phải lấy của chính người kia, lấy lúc người ấy còn sống. Đinh thì bố có sẵn, bố tự rèn từ đồng thừa ở xưởng. Hũ thì bố lấy cái hũ muối dưa của bà nội.
"Lúc ấy bác chưa ốm. Bố lấy tóc trên cái lược bác để ở đầu chạn. Mấy sợi thôi. Sau bác ốm, bố sang bóp đầu cho bác, gỡ tóc rụng cho bác. Bố không biết làm gì khác."
Tôi hỏi bố chôn ở đâu. Bố bảo ở nền bếp cũ của bà nội, chỗ ngày xưa bà đặt cái kiềng ba chân. Chôn úp ngược, ba cây đinh đặt đè lên tờ giấy, rồi trát đất sét bịt miệng. Hôm ấy trời rét, làng có đám cưới, cả xóm đi ăn cỗ. Bố tưởng không ai thấy.
* * *
"Bác mày ốm hơn một năm. Bố ngồi đầu giường bác suốt. Bố muốn đào lên, bố thề với con là bố muốn. Nhưng ông đồ dặn, chôn rồi mà đào lên giữa chừng thì cái ếm quay về người chôn."
"Bố sợ. Bố hèn."
Bác mất tháng Chạp năm chín ba. Đêm bác mất, bác gọi bố vào, nắm tay bố, không nói gì, chỉ hát được nửa câu quan họ thì tắt hơi. Từ đấy bố không đặt chân vào chỗ chôn. Hai mươi năm, bố đi vòng.
Tôi ngồi nghe, hai tay đặt trên đùi. Tôi không thấy giận. Tôi chỉ thấy lạnh, cái lạnh như đêm ở vườn Cả, bốc lên từ dưới nền gạch bệnh viện.
"Bố viết tên bác mày. Đỗ Văn Tùng. Ất Mùi. Bố nhớ từng nét."
Rồi bố mở tờ giấy đỏ ra.
* * *
Tôi bật cái đèn đầu giường, cái bóng đèn tuýp ngắn lắp trên tường. Bố giơ tờ giấy lên sát bóng đèn.
Ánh sáng xuyên qua lớp giấy mỏng. Và chúng tôi cùng thấy.
Chỗ cái tên có hai lớp mực. Lớp dưới đã bị ai đó cạo đi bằng một lưỡi dao, mặt giấy chỗ ấy mỏng hơn, xơ ra, nhưng soi lên đèn vẫn còn lờ mờ thấy bóng của mấy chữ cũ. Tùng. Ất Mùi. Lớp trên viết đè lên, mực đen bóng, chưa phai như mấy dòng chữ nho xung quanh.
Lâm. Canh Tý.
Chỉ có chữ Đỗ và chữ Văn là nguyên, với cái móc dài ở dấu ngã. Đấy là chữ bố.
Chữ Lâm thì không phải. Nét chữ ấy tròn hơn, thẳng hơn, chữ L không có vòng khuyết như bố vẫn viết trong sổ ghi công. Một người khác đã cầm bút. Một người đã đào cái hũ lên, cạy lớp đất sét, cạo tên bác, viết tên bố, rồi chôn lại đúng như cũ.
* * *
Bố hạ tờ giấy xuống. Tay bố không run nữa.
"Không phải chữ bố."
Tôi hỏi ai biết chỗ ấy. Bố nhìn tôi rất lâu. Rồi bố nói chỉ có bố với ông đồ, mà ông đồ chết từ năm chín sáu. Nói xong bố ngừng, môi còn mấp máy như định nói thêm một cái tên. Bố không nói.
"Mày cất tờ giấy đi. Đừng đốt. Ông đồ bảo đốt thì nó về chỗ cũ."
Bố nằm xuống, kéo chăn lên đến cằm. Tôi tắt đèn, ngồi trên cái ghế nhựa cạnh giường. Ngoài hành lang có tiếng xe đẩy lăn qua, tiếng một đứa trẻ khóc ở phòng cuối. Tôi nghĩ đến cái gốc nhãn có ba nén hương mỗi Tết. Nghĩ đến câu "thế thì lạ thật". Nghĩ đến mẹ tôi đặt tiền lên mâm, nói đất ấy không phải đất ăn trộm của ai.
Gần nửa đêm, bố ngủ say. Tôi nghe tiếng thở của bố đều dần.
Rồi từ cổ họng bố cất lên một câu hát. Giọng trong, vang, ngân dài, nảy lên ở cuối câu. Không phải giọng bố. Câu hát đi trọn cả hai vế, không vấp một chữ, rồi tắt ở đúng cái nốt lơ lửng tôi đã nghe ngoài vườn Cả.
Mắt bố vẫn nhắm. Miệng bố đang mỉm cười.