Chương 3: Cô giáo dưới xuôi
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi kể chuyện đêm ấy cho mế. Mế đang giã gạo, chày dừng giữa chừng. Mế nói con ngủ mê đấy, rồi giã tiếp, mạnh hơn. Đến tối, lúc tôi rửa chân ở máng nước, mế ra đứng cạnh, nói nhỏ như sợ cái máng nghe thấy.
"Chuyện nhà ấy con đừng dây vào. Người ta bảo bà Ỏn bị người dưới xuôi làm bùa hại. Thư ấy là bùa."
Tôi hỏi người dưới xuôi nào. Mế nói mế không biết rõ, hồi ấy mế còn bé. Mế bảo muốn biết thì đi hỏi bà Mến, bà Mến cái gì cũng biết.
Bà Xa Thị Mến ở ngay đầu xóm Bái, cách nhà bà Ỏn hai cái ruộng. Bà gần bảy mươi, răng nhuộm đen bóng, nói tiếng Kinh lơ lớ nhưng nói nhanh. Tôi mang cho bà tờ báo Nhân Dân cũ để bà gói thuốc, ngồi xuống bậc cầu thang nhà bà. Chưa cần hỏi, bà đã hất hàm về phía nhà bà Ỏn.
"Con đưa thư cho nhà ấy hả? Thư Hà Nội hả?"
Tôi gật. Bà Mến nhổ bã trầu xuống đất, chép miệng.
"Thì con mụ cô giáo chứ ai. Mấy chục năm rồi nó còn chưa tha."
Bà kể. Năm 1957, năm 1958 gì đó, trên huyện đưa về xóm Bái một cô giáo dưới xuôi dạy bình dân học vụ cho người lớn. Cô tên Duyên, người Hà Nội, trắng như cùi măng, nói giọng nhẹ như gió. Tối nào cô cũng mở lớp ở nhà văn hóa, thắp đèn măng sông, dạy cả xóm đánh vần. Ông Thìn hồi ấy hai mươi lăm tuổi, mới ở bộ đội về, chân trái bị mảnh đạn ở Điện Biên, đi hơi tập tễnh. Ông là người học giỏi nhất lớp.
"Thằng Thìn nó mê cô giáo lắm. Cả xóm biết. Tối nào cũng đưa cô về chỗ trọ, thổi kèn lá dưới chân cầu thang. Cô giáo cũng thương nó. Người ta tính sang xuân thì làm lễ."
Bà Mến dừng lại, cuốn điếu thuốc lá trong mẩu báo, liếm mép giấy.
"Thế rồi tự dưng một đêm thằng Thìn không đến lớp nữa. Hôm sau nó sang nhà con Ỏn, ngồi uống rượu, nói muốn lấy con Ỏn. Một tháng sau cưới. Cô giáo khóc mấy ngày, rồi xin về xuôi. Đi bộ ra đường cái, không cho ai tiễn."
Tôi hỏi sao ông Thìn đổi ý nhanh vậy. Bà Mến cười, cái cười làm lộ hàm răng đen.
"Đàn ông ấy mà, ai biết. Con Ỏn hồi ấy đẹp, đẹp nhất xóm Bái, má đỏ như quả hồng. Nó thích thằng Thìn từ hồi còn bé. Người ta bảo phải duyên thì đến. Có người bảo khác. Thôi, bà không nói."
Tôi nói giờ thì sao bà lại bảo cô giáo làm bùa hại bà Ỏn. Bà Mến chỉ tay về phía nhà sàn bên kia ruộng.
"Thằng Thìn chết thì thư Hà Nội về. Thư về thì con Ỏn héo. Còn ai vào đây? Đàn bà bị cướp chồng, ba mươi mấy năm cũng nhớ. Chờ người đàn ông chết mới đòi người đàn bà. Bà thì bà hiểu."
Rồi bà nhớ ra một chuyện, nói thêm như tiện tay.
"Mà lạ, năm ông Thìn ốm, ông ấy có đi Hà Nội một chuyến. Bảo đi khám bệnh dưới xuôi, đi một mình, không cho con Ỏn đi theo. Đi một tuần mới về. Về rồi ốm nặng hơn, sang năm thì mất."
Tôi đạp xe về, cái chuyện cứ lởn vởn trong đầu. Một người đàn ông sắp chết đi Hà Nội một mình, không cho vợ theo. Rồi một năm sau khi ông chết, thư từ Hà Nội gửi về cho ông.
Thứ năm tuần ấy, tôi hỏi anh Đức ở bưu cục. Anh Đức ngoài ba mươi, người Kinh từ Hòa Bình lên, làm việc gì cũng theo quy định. Anh lấy trong ngăn kéo ra một quyển sổ tay nghiệp vụ, mở trang có kẹp bìa.
"Người nhận đã chết thì không phát. Ghi ngoài bì là người nhận đã mất, ký tên, đóng dấu, chuyển hoàn người gửi. Không có địa chỉ người gửi thì gửi về bưu cục nơi gửi để họ xử lý."
Tôi nói bà vợ nhận thay. Anh Đức nhíu mày, nói chú Tòng làm sai bao lâu nay. Anh dặn thư tới thì để lại, đừng phát. Anh tự tay xử lý.
Tôi nghĩ đó là cách tốt. Thư không về nữa thì bùa không về nữa, bà Ỏn sẽ khỏe lại. Tôi nghĩ như một đứa con gái hai mươi hai tuổi nghĩ.
Tháng Năm, cái phong bì nâu lại về. Bó thư nhận muộn, anh Đức đã về Hòa Bình họp, bưu cục đóng cửa sớm. Không có ai để giao. Tôi đứng ở hiên một lúc, rồi bỏ cái phong bì vào ngăn trong của túi bạt, định sáng mai mang ra đưa anh Đức. Tôi quên mất lời chú Tòng. Có lẽ không phải quên. Tôi nghĩ chú già rồi, nói chuyện người già.
Tối ấy tôi treo túi bạt lên đinh ở vách gian ngoài, như mọi tối.
Gà nhà tôi có sáu con, một con trống lông tía, mế nuôi để làm giống. Cái chuồng ở dưới gầm sàn, ngay chân cầu thang. Nửa đêm tôi tỉnh dậy vì tiếng mấy con gà mái quang quác trong chuồng, tiếng cánh đập vào nan nứa loạn xạ, như có rắn vào chuồng. Rồi chúng im cùng một lúc. Im hẳn.
Một tiếng gà gáy vang lên. Không phải từ chuồng.
Nó ở trên cầu thang nhà tôi. Bậc thứ ba, hay thứ tư. Tiếng gáy không trọn, nó vỡ ra giữa chừng như cổ ai bị bóp, rồi rít dài thành một tiếng giống người ho. Mùi thuốc lào tràn qua khe cửa.
Mế ngồi bật dậy trong màn. Mế không nói gì, chỉ với tay nắm chặt cổ tay tôi. Tay mế lạnh ngắt. Hai mẹ con ngồi như thế nghe tiếng ván cầu thang kêu, kêu, rồi một tiếng nặng như có người ngồi xuống ngay trước cửa.
Cái túi bạt trên vách tự đung đưa.
Sáng ra, con gà trống lông tía của mế nằm chết trong chuồng. Không có vết cắn, không mất một cái lông. Cổ nó bị buộc một sợi chỉ màu chàm, thít chặt, thắt một nút nhỏ.