Chương 4: Thư chuyển hoàn
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Mế chôn con gà trống ở bờ rào, không làm thịt. Mế cắt sợi chỉ chàm trên cổ nó bằng con dao quắm, ném vào bếp. Sợi chỉ cũng quăn lại thành một cục đen, không cháy hết, như sợi chỉ tôi đốt hôm trước.
Sáng ấy tôi đạp ra bưu cục sớm hơn mọi khi, cái túi bạt đeo trước bụng, tay giữ chặt. Anh Đức vừa mở cửa. Tôi đưa anh cái phong bì nâu. Tôi không kể chuyện đêm qua. Kể ra anh sẽ cười, mà tôi thì không chịu nổi nếu anh cười.
Anh Đức làm đúng như anh nói. Anh lấy bút bi đỏ ghi ngoài bì mấy chữ người nhận đã mất, ký tên, đóng con dấu tròn của bưu cục. Không có địa chỉ người gửi, anh kẹp nó vào túi thư chuyển hoàn gửi về bưu cục Hà Nội theo con dấu đi. Cái phong bì nằm trong túi vải trắng, buộc dây, kẹp chì. Chiều hôm ấy xe thư về Hòa Bình mang nó đi.
Tôi đạp lên xóm Bái báo cho bà Ỏn. Tôi nghĩ bà sẽ mừng. Tôi nói từ giờ thư ấy không về nữa đâu bà, cháu trả lại rồi.
Bà Ỏn đang ngồi đan cái giỏ cá dưới gầm sàn. Tay bà dừng. Bà nhìn tôi, mắt mở to, cái nhìn của người vừa bị giật mất miếng ăn.
"Ai bảo con trả?"
Tôi nói đó là quy định. Người nhận đã mất thì không phát được. Bà Ỏn đặt cái giỏ đan dở xuống đất. Bà nói chậm, từng chữ.
"Bà ấy gửi thì để bà nhận. Bà nhận được. Bà đáng nhận."
Tôi hỏi bà đáng nhận cái gì. Bà quay mặt đi, cầm lại cái giỏ, nan tre trong tay bà run lên bần bật. Bà không nói nữa. Lúc tôi về, bà gọi với theo, giọng khàn như người khóc lâu.
"Tháng sau nó có về thì con cứ mang lên. Đừng trả nữa. Con trả thì ông ấy không có chỗ mà về."
Câu ấy tôi nghĩ mãi không ra nghĩa. Đến bây giờ, nghĩ lại, tôi mới biết bà nói đúng hơn bà tưởng.
Tháng Sáu, bó thư đầu tháng có hai cái phong bì nâu.
Một cái mới, nét chữ nghiêng run, dấu Hà Nội tháng Sáu. Cái kia là cái tôi đã trả. Trên mặt bì vẫn còn chữ đỏ của anh Đức, con dấu bưu cục Mường Khến. Bên cạnh có thêm một dòng chữ bút bi đen, nét gọn, chữ của nhân viên bưu điện dưới ấy.
"Bưu cục nơi gửi đã liên hệ người gửi. Người gửi đề nghị phát cho gia đình người nhận."
Anh Đức đọc đi đọc lại cái dòng ấy. Anh nói có lẽ người gửi gửi ở cùng một quầy tháng nào cũng vậy, nhân viên nhớ mặt. Anh nói thế này thì thôi, cứ phát cho bà vợ, có giấy tờ của nơi gửi rồi. Anh nói giọng bình thường, nhưng anh không cầm cái phong bì lâu. Anh đẩy nó về phía tôi bằng đầu thước kẻ.
Tôi mang cả hai cái lên xóm Bái. Bà Ỏn đỡ bằng hai tay, áp vào ngực, cái phong bì đã đi Hà Nội rồi quay về ở trên. Bà không trách tôi. Bà chỉ nói con mệt rồi, ngồi uống nước. Vòng chỉ trên cổ tay bà giờ quấn thêm một lớp lá khoai môn, buộc lạt bên ngoài. Bà đi lại bằng một cái gậy tre.
Tôi về bưu cục, ngồi một mình ở cái bàn gỗ trong góc, cái bàn chú Tòng ngồi mười bảy năm. Có một điều cứ cấn trong đầu tôi từ cái hôm đầu tiên cầm phong bì. Nét chữ. Nét chữ nghiêng run ấy tôi đã thấy ở đâu.
Ngăn kéo cuối của tủ gỗ là sổ sách cũ chú Tòng để lại, bọc trong bao tải dứa. Có mấy quyển sổ chi trả trợ cấp. Hồi ấy tiền trợ cấp thương binh, liệt sĩ của xã đi qua bưu điện, bưu tá mang tiền đến tận nhà, người nhận ký vào sổ. Ông Thìn là thương binh. Tháng nào ông cũng ký.
Tôi lật quyển năm 1993. Đến dòng tên ông, tôi thấy chữ ký "Quách Thìn" và, ở cột ghi chú, chính tay ông viết thêm mấy chữ: "Nhận đủ. Xóm Bái." Mực bút bi xanh. Chữ nghiêng sang phải, nét run, chữ "Th" có cái móc đuôi cong lên như lưỡi câu.
Tôi đặt cái sổ cạnh mặt sau một phong bì cũ chú Tòng còn kẹp lại trong sổ phát thư, cái phong bì nâu tháng Mười năm 1994 mà bà Ỏn trả lại vỏ cho chú, không hiểu vì sao. Tôi so từng chữ. "Thìn". "Xóm Bái". Cái móc lưỡi câu ở chữ "Th".
Là một nét chữ.
Tôi ngồi đó cho đến khi trời tối hẳn, không bật đèn. Ngoài hiên có tiếng gà nhà ai trong thị trấn lục đục lên chuồng. Tôi nghĩ đến người đàn ông đi khám bệnh dưới xuôi một mình, không cho vợ theo. Tôi nghĩ đến một bàn tay run, ngồi đâu đó, viết đi viết lại tên mình lên những cái phong bì giấy nâu.
Người nhận và người viết địa chỉ là một. Ông Thìn chết tháng Tám năm 1994. Hai năm nay, tháng nào ông cũng gửi thư cho chính mình.
Lúc tôi khóa cửa bưu cục, trong ngăn kéo cuối cái tủ gỗ có tiếng sột soạt, như ai lật trang sổ. Tôi không mở ra xem.