Chương 5: Ông thầy phố huyện
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Cuối tháng Sáu, anh Sình cháu ông Thìn đạp xe ra tận bưu cục tìm tôi. Anh Sình ngoài bốn mươi, con người anh trai ông Thìn, ở xóm Bái, cách nhà bà Ỏn một con suối. Ông bà Thìn không có con, anh Sình là người lo cho bà. Anh nói anh đã mời thầy, chủ nhật làm lễ trừ cho bà thím, bà thím bảo phải gọi cả con bé bưu tá đến.
"Thím bảo cô là người mang thư thì cô phải có mặt. Thầy cũng bảo thế."
Tôi không muốn đi. Nhưng tôi đã giữ cái phong bì qua đêm, tôi đã trả nó đi, và bà Ỏn vẫn gọi tôi là con. Tôi đi.
Ông thầy là ông Hách ở phố huyện, người Kinh, ngoài năm mươi, mặc áo sơ mi trắng cài kín cổ, đeo cái túi da bóng. Người ta bảo ông từng làm lễ cho cả cán bộ trên tỉnh. Ông đi xe máy Cub đến, dựng xe dưới gầm sàn ngay cạnh cái chuồng gà trống không, rồi đứng lại nhìn cái chuồng một lúc. Ông bảo chuồng này có hơi lạnh.
Lên nhà, ông bắt hạ hết mấy cái ống nứa trên gác bếp xuống. Tôi đếm được hai mươi mốt cái. Có cái đã ám khói đen như sừng, có cái còn vàng mới. Ông cho đổ ra một cái mâm đồng những tờ giấy bản, những sợi chỉ chàm, chỉ tơ trắng rời nhau, nằm lổn nhổn như tóc rụng. Bà Ỏn ngồi dựa cột, nhìn cái mâm, không nhìn ai.
Ông Hách cầm từng tờ giấy bản lên, soi ra ánh cửa sổ. Ông chép miệng. Ông chỉ cái hình người dang tay, những đường cong tỏa ra từ cổ tay.
"Đây là bùa trói vía. Trói từ tay mà kéo đi. Người dưới xuôi thuê thầy Mường vẽ, gửi lên mỗi tháng một đạo, trói dần từng sợi vía của bà."
Anh Sình hỏi thế phải đốt đi chứ thầy. Ông Hách giơ tay lên.
"Không được đốt. Bùa này viết nhắm vào vía người nhận. Đốt ở bếp nhà này là đốt vía bà ấy. Phải giữ, phải niêm lại, để nó không động được."
Tôi nói với anh Sình chuyện nét chữ ngoài phong bì giống hệt nét chữ ông Thìn trong sổ trợ cấp. Tôi mang cả quyển sổ theo, giở ra cho anh xem. Anh Sình nhìn, mặt tái đi. Nhưng ông Hách đã nghe thấy. Ông cầm quyển sổ, lật qua lật lại, gật gù như đã biết trước.
"Thế mới độc. Nó giả chữ người chết để vía bà nhận ra mà theo. Người làm bùa giỏi là thế."
Bà Ỏn nghe đến đó thì nhắm mắt lại. Tôi thấy môi bà mấp máy, như đang nói với ai không ở trong phòng.
Ông Hách đốt hương, khấn bằng tiếng Kinh, giọng đều đều như đọc công văn. Ông bắt cắt tiết một con gà trống anh Sình mang từ nhà sang, lấy máu nhỏ lên từng đầu ống nứa. Rồi ông bỏ hết giấy bản, chỉ chàm vào lại các ống, lấy sáp ong nóng bịt kín miệng. Hai mươi mốt cái ống nứa được buộc thành một bó, treo lên chỗ cao nhất trên gác bếp, cách xa lửa.
Lúc ấy ở dưới sân có người gọi. Một ông già gầy, lưng còng, đầu quấn khăn đen, tay chống gậy gỗ. Tôi nhận ra ông Khiêm, ông mo xóm Trên, người đã đọc mo ba ngày ba đêm ở đám ông Thìn. Ông không lên nhà. Ông đứng dưới chân cầu thang, ngửa mặt lên, nói tiếng Mường, giọng không to mà rõ.
"Bà Ỏn. Tôi đã bảo bà rồi. Thư đến thì đốt ở bếp. Bà không nghe, giờ lại để người ta niêm."
Ông Hách ra đầu cầu thang, hỏi ông kia là ai mà phá lễ. Bà Ỏn chống gậy đứng dậy. Lần đầu tiên tôi nghe bà quát. Giọng bà khản đặc, run lên.
"Ông về đi. Bố ông làm cho tôi chưa đủ à? Còn ông nữa, ông cũng muốn bắt tôi đốt cho nó vào bếp nhà tôi!"
Ông Khiêm đứng im một lúc. Rồi ông nhìn lên chỗ tôi đứng, cái nhìn dừng lại ở cái túi bạt trên vai tôi. Ông quay lưng, chống gậy đi ra cổng, không nói thêm câu nào.
Tôi hỏi anh Sình bố ông Khiêm là ai. Anh Sình nói bố ông Khiêm là ông mo Lường, mo giỏi nhất vùng Mường Bi ngày trước, mất từ hồi anh còn đi học. Anh không biết thím anh nói thế là ý gì.
Ông Hách nhận tiền, dặn mỗi rằm đốt hương, không được mở ống. Thư tháng sau đến thì đừng mở, bỏ thẳng vào ống, bịt sáp. Ông dắt xe ra cổng, đi qua cái chuồng gà thì nhổ một bãi nước bọt.
Đêm ấy tôi ngủ ở nhà. Không có tiếng gà gáy. Cả xã yên như tờ. Tôi nằm nghĩ có lẽ ông Hách làm được thật.
Sáng hôm sau, chưa tỏ mặt người, anh Sình đã đập cửa nhà tôi. Áo anh ướt sương đến ngực. Anh nói thím anh đêm qua kêu suốt, gọi tên chú Thìn, gọi như người sa lầy gọi, rồi sáng ra thì không nói được nữa. Miệng mở mà không ra tiếng.
Tôi theo anh sang. Bà Ỏn nằm trên đệm, mắt mở, nhìn lên gác bếp, nơi bó ống nứa bịt sáp treo lủng lẳng. Lớp lá khoai môn trên cổ tay trái bà đã tuột ra. Vòng chỉ chàm ăn sâu vào thịt, sâu đến mức không còn nhìn thấy sợi chỉ, chỉ thấy một đường rãnh đỏ, rỉ máu thành giọt, nhỏ xuống chiếu.
Trên sàn, cạnh bếp, có một vệt tro bị gạt thành hình một bàn tay xòe, năm ngón chĩa về phía bà.