Chương 6: Người ngồi bên bếp
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Bà Ỏn nằm liệt mười ngày. Y tá xã đến tiêm hai mũi, để lại mấy vỉ thuốc, dặn băng cổ tay cho sạch. Chị ấy không cắt được vòng chỉ. Lưỡi kéo luồn không lọt, sợi chỉ đã chìm hẳn vào thịt. Chị bảo phải đưa ra bệnh xá huyện mà rạch. Anh Sình bàn với họ hàng, mấy ông già trong họ lắc đầu. Họ nói người đang bị trói vía mà đem đi xa nhà là vía không tìm được đường về.
Đầu tháng Bảy, cái phong bì nâu lại về. Tôi cầm nó lên, thấy nặng tay hơn mọi lần, dù nó vẫn chỉ là một tờ giấy bản và hai sợi chỉ.
Hôm ấy anh Sình phải ra tận thị trấn mua thuốc, chiều mai mới về được. Vợ anh đang ở cữ. Không ai ở với bà Ỏn. Tôi nói để cháu ngủ lại. Mế tôi không cản. Mế chỉ dúi vào túi bạt cho tôi một nắm gạo rang với muối, dặn có gì thì rắc ra trước mặt.
Tôi chưa bỏ cái phong bì vào ống nứa như ông Hách dặn. Tôi không dám trèo lên gác bếp động vào cái bó ống bịt sáp. Tôi để nó trong túi bạt, cái túi đặt sát bên người.
Tối ấy trời khô, trăng thượng tuần mỏng như móng tay. Bà Ỏn nằm ở gian ngoài, gần bếp, cho ấm. Bà vẫn không nói được. Bà thở rít, mỗi hơi thở như kéo qua một cái ống nứa hẹp. Tôi đút cho bà mấy thìa cháo, bà nuốt được hai.
Tôi ngồi bên bếp, khều than cho lửa đừng tắt. Tôi không định ngủ.
Lần này tôi biết trước khi nó đến. Côn trùng ngoài vườn tắt tiếng từng đám một, từ phía cổng vào đến gầm sàn, như có người đi qua dập từng đám. Ngọn lửa trong bếp rạp xuống, xanh lè ở chân. Rồi cái lạnh. Cái lạnh bò lên từ khe sàn, qua lòng bàn chân, lên đầu gối tôi. Mùi thuốc lào.
Tôi không nghe tiếng bước chân lên cầu thang. Tôi chỉ ngẩng lên thì đã thấy ông ngồi đó, bên kia bếp, cách tôi một sải tay.
Ông Thìn. Tôi nhận ra ông ngay, như nhận ra tấm ảnh trên bàn thờ, nhưng già hơn, gầy hơn, như lúc ông sắp mất. Ông mặc cái áo bộ đội đã bạc thành màu cỏ úa, chân trái duỗi thẳng ra, không gập được. Mặt ông xám như tro. Ông không nhìn tôi. Ông nhìn bà Ỏn.
Từ cổ tay trái ông có một sợi chỉ màu chàm chạy ra. Nó căng ngang qua mặt sàn, qua cạnh bếp, chui vào cái băng vải trên cổ tay bà Ỏn. Sợi chỉ căng như dây cung. Mỗi lần ông nhích người, bà Ỏn nấc lên một tiếng, ngực bà ưỡn lên theo, như có ai kéo bà về phía ông.
Tôi muốn hét mà cổ họng không có hơi. Tôi ngồi như thế, hai tay ôm cái túi bạt vào bụng.
Ông Thìn ngẩng lên nhìn bó ống nứa bịt sáp trên gác bếp. Ông giơ tay lên, bàn tay xương xẩu, run. Tay ông chỉ với đến khoảng không cách bó ống một gang thì dừng, như chạm vào một tấm kính. Ông thử lại lần nữa. Lần nữa. Rồi ông buông tay, quay sang nhìn tôi.
Không, ông nhìn cái túi bạt.
Ông chìa bàn tay ngửa ra, chỉ vào bếp lửa. Rồi ông chỉ vào cái túi trên bụng tôi. Rồi lại chỉ vào bếp. Ông làm thế ba lần, chậm, như dạy một đứa trẻ.
Tôi hiểu ông muốn gì. Ông muốn tôi đốt cái thư. Và tôi nhớ lời ông Hách, đốt ở bếp nhà này là đốt vía bà ấy. Tôi lắc đầu. Tôi ôm cái túi chặt hơn, lùi về phía vách.
Ông Thìn mở miệng. Cái tiếng phát ra từ cổ ông không phải tiếng người. Nó là tiếng gà gáy, nhưng gãy làm ba khúc, khàn đặc, khúc cuối tắc lại thành tiếng ho của một ông già có đờm. Tôi đã nghe tiếng ấy dưới gầm sàn, trên cầu thang nhà tôi. Giờ nó ở ngay trước mặt, phả ra mùi thuốc lào và mùi đất ẩm.
Một cơn gió từ đâu thổi qua gian nhà. Cửa vẫn cài then. Bó ống nứa trên gác bếp đung đưa, dây lạt buộc nó đứt phựt, cả bó rơi xuống sàn. Mấy ống lăn đi. Một ống lăn thẳng vào mép bếp, nằm trên than đỏ.
Sáp ong chảy ra, xèo một tiếng. Khói trắng bốc lên, mùi giấy bản cháy, mùi khét của chỉ.
Bà Ỏn thở ra. Một hơi thở dài, trơn, không rít nữa. Lần đầu tiên trong mười ngày.
Tôi không để ý điều đó. Lúc ấy tôi chỉ nhớ ông Hách. Tôi lao tới, chộp cái ống nứa ra khỏi than bằng tay không. Da lòng bàn tay tôi xèo lên như miếng mỡ. Tôi ném cái ống ra giữa sàn, lấy chân dập khói.
Bà Ỏn nấc lên. Tiếng rít trở lại, gắt hơn.
Khi tôi ngẩng lên, bên kia bếp không còn ai. Sợi chỉ chàm trên sàn cũng không còn. Chỉ có cái chỗ ông ngồi, tro bị gạt sang một bên, và một vệt ướt hình đầu gối.
Tôi ngồi ôm bàn tay bỏng đến sáng. Lúc gà nhà hàng xóm gáy sáng, gáy thật, tiếng trong và dài, bà Ỏn quay mặt sang phía tôi. Môi bà động đậy. Mười ngày rồi bà mới nói được một tiếng, và tôi phải cúi sát xuống mới nghe được.
"Đốt."
Rồi bà nhắm mắt. Nước mắt chảy ngang thái dương, xuống chiếu.