Chương 7: Ông mo xóm Trên
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Bàn tay phải tôi phồng rộp một vệt dài ngang lòng, đúng bề rộng cái ống nứa. Mế giã lá bỏng đắp cho tôi, quấn vải màn. Tôi không cầm được ghi đông xe đạp, đi đâu cũng phải đi bộ.
Tôi đi bộ lên xóm Trên.
Nhà ông mo Khiêm ở lưng đồi, sau một rặng tre gai. Nhà sàn nhỏ, cũ, cột kê đá, dưới gầm xếp củi gọn như tường. Ông Khiêm ngồi ở đầu sàn vót nan, thấy tôi thì đặt dao xuống, như đã đợi. Ông không hỏi tôi đến làm gì. Ông nhìn bàn tay quấn vải của tôi trước.
"Cháu lôi nó ra khỏi lửa à?"
Tôi gật. Ông thở dài, cái thở dài của người già thấy con cháu đi sai đường mà không kéo được.
Tôi lấy từ trong túi bạt ra cái phong bì tháng Bảy còn nguyên, chưa mở, đặt lên sàn trước mặt ông. Tôi lấy ra quyển sổ trợ cấp năm 1993, giở trang có chữ ký ông Thìn. Rồi tôi kể. Kể hết, từ sợi chỉ trên khóa túi, con gà trống của mế, người ngồi bên bếp, bàn tay chỉ vào lửa. Ông Khiêm nghe, không ngắt lời câu nào, tay mân mê đầu chiếc khăn quấn đầu.
Kể xong, tôi hỏi thẳng. Cái này có phải bùa hại không ông.
Ông Khiêm cầm cái phong bì lên, không mở, chỉ sờ mặt giấy, sờ nét chữ.
"Không phải. Những tờ giấy bản trong này, tay ông vẽ."
Tôi ngồi lặng đi. Ông Khiêm kể, chậm, từng câu cách nhau bằng tiếng dao vót nan, vì ông lại cầm dao lên, như cần có việc cho tay làm.
Mùa xuân năm 1993, ông Thìn lên nhà ông, ngồi đúng chỗ tôi đang ngồi. Ông Thìn khi ấy đã ốm, ho ra máu, người gầy như que củi. Ông Thìn nhờ ông Khiêm vẽ cho một thứ. Ông Khiêm nói ông vẽ ba mươi sáu tờ, mất hai tuần, mỗi đêm vẽ một hai tờ, khấn tên bố ông là ông mo Lường trước mỗi tờ. Ông Thìn mang ba mươi sáu tờ ấy về, cùng một nắm chỉ chàm, chỉ tơ trắng.
"Thế ông ấy mang đi đâu?"
"Mang đi Hà Nội."
Tôi hỏi gửi cho ai. Ông Khiêm không trả lời. Tôi hỏi vẽ để làm gì. Ông Khiêm cũng không trả lời. Ông đặt dao xuống, nhìn tôi.
"Ông thề với ông Thìn trước bàn thờ bố ông rồi. Chuyện ấy, chừng nào bà Ỏn chưa tự mở miệng thì ông không được nói. Ông Thìn bảo chuyện của bà ấy thì phải để bà ấy nói. Ông ấy không muốn người ta biết qua miệng người ngoài."
"Mà bà ấy sắp chết rồi ông ạ."
Ông Khiêm im rất lâu. Rồi ông nói một câu, nhìn ra rặng tre.
"Ông chỉ nói được thế này. Lúc ông Thìn mất, ông đã sang dặn bà Ỏn: thư về thì đốt ở bếp, đừng hỏi gì. Bà ấy không tin ông. Bà ấy sợ ông, vì ông là con ông mo Lường."
Tôi hỏi vì sao bà Ỏn sợ con ông mo Lường. Ông Khiêm đứng dậy, chống gậy vào nhà, mang ra một cái ống nứa nhỏ, đen bóng vì khói lâu năm. Ông rút trong đó ra một tờ giấy bản cũ, mép giòn như lá khô. Trên đó vẽ một hình người đứng, hai tay chắp lại trước ngực. Từ hai cổ tay chạy ra những đường cong, nhưng những đường cong ấy cuộn vào trong, quấn quanh người, như sợi chỉ đang thít.
"Bản này bố ông để lại. Tờ thật đã đốt từ lâu rồi. Cháu đặt cạnh cái của cháu mà xem."
Tôi nhớ những tờ giấy bản trong ống nứa nhà bà Ỏn. Cũng hình người ấy, cũng những đường cong ấy. Nhưng hai tay dang ra, và những đường cong tỏa ra ngoài, như có người vừa cởi ra.
Một cái là ngược của cái kia.
Ông Khiêm cất tờ giấy cũ vào ống. Ông nói ông không nói thêm được nữa. Ông chỉ dặn: còn bao nhiêu cái thư chưa đốt, đừng để ai niêm thêm cái nào.
Tôi về bưu cục, tay vẫn đau buốt, ngồi lục sổ. Lần này tôi lục quyển sổ thư bảo đảm năm 1993. Thư bảo đảm thì người gửi phải ký, phải ghi rõ tên người nhận, bưu tá ghi lại vào sổ. Tôi dò ngón tay trái từng dòng. Tháng Ba năm 1993. Có một dòng chữ chú Tòng.
Người gửi: Quách Văn Thìn, xóm Bái. Người nhận: Nghiêm Thị Duyên, phố Hàng Bột, Hà Nội. Có cả số nhà, số ngõ.
Cô giáo dưới xuôi. Ông Thìn đã viết thư cho cô giáo trước khi đi Hà Nội một tháng.
Tôi chép cái địa chỉ ấy vào mặt sau cuốn sổ phát thư của mình. Tay trái viết, chữ xiêu vẹo như chữ trẻ con mới học.
Chiều hôm ấy anh Sình chạy sang. Anh nói từ hôm tôi về, đêm nào dưới gầm sàn nhà thím anh cũng có tiếng gà gáy, mà không phải một con. Ba, bốn tiếng một lúc, chen nhau, khàn, như cả một đàn gà trống bị bóp cổ. Đêm qua, sợi chỉ chàm trên cổ tay bà lại rỉ máu, máu thấm qua ba lớp vải.
"Mà thím gọi cô. Thím nói được rồi, nhưng chỉ chịu nói với cô và ông mo."
Tôi lại đi bộ lên xóm Trên lần thứ hai trong ngày. Ông Khiêm đang đứng ở đầu cầu thang, cái khăn đen quấn đầu đã thay bằng khăn mới, túi mo đeo bên vai. Như ông đã biết tôi sẽ quay lại.
Hai ông cháu đi xuống xóm Bái lúc mặt trời gác núi. Bà Ỏn đã ngồi dậy được, dựa lưng vào cột cái, cái cổ tay quấn vải đặt trên đùi. Bà nhìn ông Khiêm, rồi nhìn bàn tay bỏng của tôi. Bà nói, giọng như tiếng giấy cọ vào nhau.
"Ông mo ngồi xuống. Con Dịu cũng ngồi. Tôi nói."