Chương 3: Bác gánh nước
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Trưa hôm ấy tôi gọi Dua với Lử vào bếp, cho mỗi đứa một củ khoai lùi. Hai đứa ngồi xổm cạnh bếp lửa, bóc vỏ khoai bằng mấy ngón tay đen nhẻm, thổi phù phù. Tôi ngồi xuống cạnh chúng nó, hỏi nhỏ bác gánh nước trông thế nào.
Lử nhìn Dua. Dua nhìn củ khoai. Một lúc lâu con bé mới nói, tiếng Kinh của nó vấp từng chữ.
"Bác già. Bác đội khăn. Khăn có hoa đỏ ở đầu."
"Áo bác màu gì?"
"Đen. Có cái cúc... như con bướm. Trắng trắng."
Lử chen vào, tay khoa thành một đường cong trên vai:
"Bác có cái đòn. Hai cái thùng. Váy bác ướt hết."
Tôi ngồi im. Khăn có hoa đỏ ở đầu, áo đen cúc hình con bướm. Đó là khăn piêu với áo cóm của đàn bà Thái. Áo tôi đang mặc dưới lớp áo bông cũng là áo cóm, hàng cúc bạc hình bướm, mẹ tôi khâu cho từ hồi tôi đi lấy chồng. Nhưng ở Tả Pú Chản không có người Thái. Cả xã là người Mông, vài nhà Dao ở bản tít trên đỉnh. Người Thái trong trường chỉ có tôi với cô Hiền.
"Bác có nói gì không con?"
Dua lắc đầu. Rồi nó nghĩ thêm, lại gật.
"Bác hỏi con đói không. Con bảo không đói. Bác cười."
Nói xong con bé cắn một miếng khoai to, má phồng lên. Tôi không hỏi thêm nữa.
Chiều hôm ấy tôi lên lớp một tìm cô Hiền. Cô đang ngồi chấm vở tập tô. Trên tường sau lưng cô ghim một dãy tranh vẽ bằng bút sáp của học sinh, đề tài "Trường em". Phần lớn là mấy hình chữ nhật mái xanh, cột cờ, mặt trời có tia. Tôi nhìn một lượt rồi dừng lại ở bức thứ năm.
Bức đó vẽ cái bếp. Tôi nhận ra vì có ba cái hình trụ xanh ở góc, đúng ba thùng phuy. Cạnh bếp có một người đứng nghiêng. Người ấy chỉ là một nét que, nhưng trên đầu có một vệt đỏ, trên vai có một nét ngang dài, hai đầu treo hai hình vuông nâu. Dưới chân người ấy đứa trẻ tô một vệt xanh lam đậm, tô đè nhiều lần đến mức sáp bóng lên.
Góc tranh viết nguệch ngoạc: "Mùa Thị Dua".
Cô Hiền thấy tôi đứng nhìn thì đặt bút xuống. Cô không hỏi gì. Cô gỡ bức tranh xuống, gấp đôi lại, đưa cho tôi.
"Chị cầm đi. Em không muốn treo nữa."
Tôi hỏi cô Hiền có biết ai trước đây người Thái làm ở trường này không. Cô bảo cô lên năm 2012, lúc ấy bếp do một bà người Mông nấu. Trước đó thì cô không biết. Cô bảo nếu tôi muốn biết thì hỏi ông Páo, ông ở đây từ hồi trường còn là nhà tranh. Rồi cô cúi xuống chấm tiếp, nhưng tôi thấy cái bút đỏ trong tay cô đứng yên.
Tôi mang bức tranh về buồng, kẹp vào cuốn sổ ghi xuất kho. Tối ấy tôi quyết định không ngủ.
Tôi ngồi ở cái ghế gỗ thấp cạnh bếp lửa, khoác cái chăn chiên lên vai, để cái đèn pin trong lòng. Tôi không đốt đèn. Tôi để lửa trong lò liu riu, đủ thấy lờ mờ ba thùng phuy ở góc. Phuy nào cũng gần cạn, vì chiều ấy tôi cố ý múc ra nấu canh, tráng nồi, rửa bát cho đến khi đáy phuy chỉ còn một gang.
Đêm trên này dài. Tôi nghe tiếng mái tôn co lại kêu tách, tiếng học sinh trong dãy nhà ở ho khục khặc. Con Pò nằm dưới gầm chạn, thở phì phò, thỉnh thoảng rên một tiếng. Tôi gật gù, tỉnh, lại gật gù.
Rồi con Pò thôi rên. Tôi mở mắt.
Bếp lửa vẫn liu riu, nhưng hơi ấm từ lò như bị rút đi. Cái lạnh không từ cửa vào, mà từ đất bốc lên, qua đế dép, qua cổ chân. Tôi thấy hơi thở mình thành khói trắng ngay trong bếp. Rồi cái mùi đến. Mùi rêu, mùi đá ướt, mùi lá sau sau mục dưới đáy khe. Nó dày hơn những đêm trước, dày đến mức tôi tưởng mình đang ngồi ngay bên mép vũng nước dưới kia.
Tiếng kẽo kẹt bắt đầu từ xa, dưới dốc. Tôi đếm nhịp. Mười, hai mươi, ba mươi. Nó lên tới sân. Nó đi ngang qua cột cờ, qua dãy nhà ở của học sinh, mỗi bước chậm như người đã mỏi chân lắm.
Tôi rút người vào sau cái chạn bát, nhìn qua khe giữa hai tấm ván.
Cửa bếp tôi đã cài then. Then gỗ không động đậy. Nhưng tiếng kẽo kẹt dừng ngay sau cánh cửa, và tôi nghe một tiếng thở ra rất dài, rất mệt, như tiếng người vừa đặt được gánh nặng xuống. Rồi từ góc bếp, chỗ ba thùng phuy, có tiếng nước đổ.
Không phải ngoài cửa. Ở ngay trong bếp, cách tôi bốn bước chân.
Tôi nhìn thẳng vào thùng phuy đầu tiên. Cái nắp tôn vẫn đậy. Nhưng tôi nghe rõ tiếng nước rơi vào lòng phuy rỗng, tiếng ùng ục của nước dâng lên, tiếng sóng nhỏ vỗ vào thành nhựa. Một lần. Rồi thùng thứ hai. Rồi nghỉ, như người quay đi gánh chuyến khác. Rồi lại tiếng kẽo kẹt xa dần xuống dốc.
Tôi không biết mình ngồi đó bao lâu. Tôi đếm được bốn lượt kẽo kẹt lên xuống. Mỗi lượt cách nhau rất lâu, đủ cho một người già gánh từ khe lên. Đến lượt thứ tư thì tiếng thở ngoài cửa nặng hơn, đứt quãng, và có một tiếng gì như tiếng vải ướt quệt vào ván cửa.
Rồi im hẳn. Mùi khe nước rút đi. Con Pò rên một tiếng, trở mình.
Tôi đứng dậy, chân tê dại, đi lại phía thùng phuy. Tôi chưa kịp đưa tay mở nắp thì có cái gì lạnh buốt rơi xuống gáy. Một giọt. Rồi giọt nữa, chảy dọc sống lưng vào trong áo cóm.
Tôi ngẩng lên, rọi đèn pin.
Đôi thùng gỗ cũ treo trên xà vẫn ở đó, mạng nhện vẫn giăng từ quai lên xà. Nhưng ván sa mu đã sẫm màu, ướt sũng từ đáy lên miệng. Nước rỉ ra từ kẽ ván, đọng thành giọt dưới đáy thùng, rơi xuống từng giọt một, đúng vào chỗ tôi đang đứng.