☾ Truyện Ma Có Thật
← Thùng nước đầy mỗi sáng

Chương 4: Nồi canh loãng

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Sáng hôm ấy tôi gọi điện cho thằng con trai ở Bình Dương. Sóng trên này chỉ bắt được ở đúng một góc sân, cạnh cột cờ, phải giơ máy lên cao. Tôi nói với nó mẹ làm hết tháng này thì về. Nó hỏi sao vậy, mới lên mà. Tôi bảo lạnh quá, mẹ già rồi, chịu không nổi. Tôi không nói gì đến nước.

Mấy ngày sau đó tôi làm việc như người bị ai đuổi. Tôi nấu cho xong, rửa cho xong, rồi chui vào buồng đắp chăn, không nhìn lên xà nhà. Đôi thùng gỗ sáng ra lại khô, bụi lại phủ, như chưa có gì. Ba thùng phuy sáng nào cũng đầy.

Tôi bắt đầu tiếc tiền. Tiền thức ăn tháng ấy về chậm, thầy Lực bảo phải chờ huyện duyệt. Trong kho còn nửa can mỡ, ít muối, mấy cân đậu tương khô, một bao bắp cải. Tôi tính toán từng bữa. Canh bắp cải tôi nấu loãng dần, một cái bắp cải cho cả nồi bốn mươi tám bát. Thịt thì để dành cho bữa trưa, bữa sáng chỉ có cơm với muối vừng.

Học sinh không kêu. Chúng nó không bao giờ kêu. Chúng nó ăn hết, liếm cả thìa, rồi đứng xếp hàng xin thêm cơm, có đứa đứng hai lần. Tôi gạt đi. Tôi bảo hết rồi, đi học đi.

Có một chuyện tôi làm mà bây giờ nghĩ lại vẫn thấy xấu hổ. Sáng nào học sinh cũng ra cái bể xi măng cạnh bếp rửa mặt, đánh răng bằng nước lạnh như băng. Đứa nào tay cũng nứt nẻ, rớm máu ở kẽ ngón. Cấp dưỡng trước tôi, theo lời cô Hiền, vẫn đun một nồi nước ấm để chúng nó pha. Tôi thì không đun. Tôi bảo củi ít, phải để nấu cơm.

Một buổi sáng, thằng Lử làm đổ bát cơm xuống đất. Cơm vương ra nền, lẫn tro. Thằng bé ngồi xổm xuống nhặt từng hạt cho vào bát. Tôi đang mệt, đang cáu, tôi quát nó. Tôi nói một câu mà tôi không nên nói với một đứa trẻ sáu tuổi.

"Ăn thì ăn cho cẩn thận. Đổ thì nhịn."

Lử ngẩng lên nhìn tôi. Nó không khóc. Nó nhặt nốt mấy hạt cơm cuối, bỏ vào bát, rồi đứng dậy đi ra ngoài, không ăn. Dua đi theo nó.

Tôi đứng trong bếp, tay cầm cái muôi, thấy ngực mình nặng. Nhưng tôi không gọi chúng nó lại.

Đêm hôm ấy tôi ngủ say, có lẽ vì mệt. Tôi không nghe thấy tiếng kẽo kẹt, không ngửi thấy mùi khe nước. Tôi chỉ nhớ là gần sáng, trong giấc ngủ, tôi nghe một tiếng rầm rất to ở phía bếp, như một vật nặng đổ xuống nền đất.

Bốn giờ rưỡi, chuông báo thức kêu. Tôi đẩy cửa buồng ra bếp và trượt chân suýt ngã.

Nền bếp là một lớp băng. Thùng phuy đầu tiên nằm lăn kềnh, nắp tôn văng vào tận gầm chạn. Nước trong phuy đã đổ hết ra, loang khắp nền, chảy vào chân bếp lửa làm tắt ngấm mấy hòn than, rồi đông cứng lại trong đêm. Hai thùng phuy còn lại thì đứng nguyên chỗ, nắp đậy, nhưng khi tôi mở ra thì bên trong khô trơ.

Không phải cạn. Khô. Đáy nhựa khô như chưa từng chứa nước.

Tôi đứng giữa bếp, đèn pin rọi xuống lớp băng dưới chân. Băng không phẳng. Nó gợn lên thành những nếp nhỏ, đều nhau, xếp thành những vòng cung như vết nước sóng sánh mãi rồi bị ai đó đông cứng lại đúng lúc ấy. Ở giữa lớp băng, chỗ sát thùng phuy đổ, có một vệt dài hơn, thẳng hơn, giống như vết một cây gậy, hay một cây đòn gánh, quăng xuống đất.

Sáng hôm ấy học sinh không có cơm sáng. Ống vẫn đóng băng. Tôi phải chạy sang nhà công vụ xin hai can nước của giáo viên, đập băng trên nền bếp để nhóm lại lửa, đến tám giờ mới có nồi cháo loãng. Bốn mươi tám đứa trẻ ngồi trong lớp từ bảy giờ, bụng rỗng, ngoài trời sương muối trắng xoá.

Đến giờ ra chơi, tôi bưng cháo lên từng lớp. Đến lớp một, cô Hiền mở cửa cho tôi vào. Dua ngồi bàn đầu, hai tay giấu trong ống tay áo khoác hồng, mặt tái xanh. Tôi múc cho con bé một bát đầy, đặt trước mặt nó. Nó không cầm thìa.

"Bác gánh nước không vào nữa."

Con bé nói nhỏ, không nhìn tôi. Lử ngồi cạnh nó gật đầu.

"Bác đứng ngoài sân. Bác nhìn cái nồi. Bác không vui."

Cô Hiền kéo tôi ra hành lang. Mặt cô trắng bệch, cô hỏi tôi đã làm gì. Tôi kể cho cô nghe chuyện cái phuy đổ, chuyện nền băng, chuyện đáy phuy khô. Tôi không kể chuyện thằng Lử. Cô Hiền nghe xong thì lấy hai tay ôm lấy mặt, đứng một lúc rồi mới bỏ tay xuống.

"Chị Tâm làm trước chị cũng thế. Đúng một sáng như thế, rồi chị ấy bỏ về."

Chiều hôm ấy, ông Páo lên trường sớm hơn mọi khi. Ông đi thẳng xuống bếp, đứng ở cửa nhìn thùng phuy đã được tôi dựng lại, nhìn mấy mảng băng còn sót ở chân tường. Ông không vào. Ông đứng ở bậc cửa, đúng chỗ mấy đứa trẻ bảo bác gánh nước hay đứng.

Rồi ông cúi xuống nhặt cái nắp tôn văng ra từ sáng mà tôi chưa kịp nhặt. Mép nắp bị móp vào một chỗ, sâu và gọn, như bị vật gì cứng nện xuống. Ông lật đi lật lại cái nắp trong tay, rồi đặt nó lên phuy, đậy lại, vuốt cho phẳng.

"Bà ấy giận rồi."

Ông nói, bằng giọng rất khẽ, không phải với tôi. Rồi ông quay đi. Tôi chạy theo ông ra tận cổng, hỏi bà ấy là ai. Ông Páo không quay lại.