☾ Truyện Ma Có Thật
← Thùng nước đầy mỗi sáng

Chương 5: Cuốn sổ gạo muối

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tối hôm ấy tôi không nấu cơm chiều ngay. Tôi đi xuống bản dưới, gõ cửa nhà một người Mông có nuôi lợn, mua ba cân thịt ba chỉ bằng tiền túi của mình. Tôi mua thêm một rổ trứng gà, hai bó cải mèo. Lúc leo dốc về, trời đã tối, sương muối đặc quánh. Tôi đi mà nghĩ đến cái nồi canh bắp cải loãng, nghĩ đến thằng Lử ngồi nhặt cơm lẫn tro.

Bữa tối hôm đó có thịt kho, có canh cải nấu trứng. Tôi múc cho Lử một bát đầy, đặt thêm một miếng thịt lên trên. Thằng bé nhìn bát cơm, rồi nhìn tôi, rồi cúi xuống ăn, không nói gì. Tôi đứng sau lưng nó một lúc. Tôi nói với nó bằng tiếng Kinh, chậm, cho nó hiểu.

"Hôm qua bác nói sai. Đổ thì xin thêm. Không phải nhịn."

Lử gật đầu, miệng đầy cơm. Dua ngồi cạnh nó, cười.

Tối hôm ấy tôi đun một nồi nước to, để sẵn trên bếp tro cho sáng ra học sinh có nước ấm rửa mặt. Củi thiếu thì tôi đi nhặt thêm cành sa mu khô ở bìa rừng sau trường. Tôi cũng không còn đủ can đảm để đổ hai thùng phuy khô trơ kia đi tìm nước ở đâu. Tôi chỉ đậy nắp lại, rồi đi ngủ.

Gần sáng, tôi lại ngửi thấy mùi khe nước. Tôi nằm yên, nghe tiếng kẽo kẹt lên dốc. Lần này tôi không sợ bằng những đêm trước. Tôi chỉ thấy một nỗi buồn rất lạ, như người nằm nghe mẹ mình dậy sớm làm việc mà không dám ra phụ.

Sáng ra ba thùng phuy đầy. Nồi nước tôi đun để trên bếp tro vẫn còn âm ấm. Nhưng có một thứ đã khác.

Cây đòn gánh không còn trên xà nữa. Nó nằm vắt ngang miệng thùng phuy thứ hai, đặt ngay ngắn như người vừa gánh xong đặt xuống nghỉ.

Đôi thùng gỗ vẫn treo trên xà, khô, phủ bụi. Chỉ có cây đòn gánh là xuống. Tôi đưa tay chạm vào nó. Hai đầu đòn lạnh buốt, ướt rượt. Nhưng chỗ mòn bóng ở giữa, chỗ đặt lên vai, thì ấm. Ấm như hơi người còn để lại.

Tôi rụt tay về. Tôi không dám treo nó lên lại. Cả ngày hôm ấy cây đòn gánh nằm đó, tôi đi qua đi lại mà không dám động vào.

Trưa, tôi trèo lên gác kho tìm thêm muối. Gác kho là một cái sàn gỗ ghép trên trần bếp, phải bắc thang mới lên được. Trên đó để mấy bao gạo, mấy can mỡ, và một đống đồ cũ không ai dùng nữa: nồi nhôm thủng, rổ rá rách, mấy cái hộp sắt đựng bánh quy đã gỉ. Tôi mở từng hộp ra xem. Trong cái hộp cuối cùng, dưới mấy gói hạt giống rau đã mốc, có một cuốn sổ.

Cuốn sổ bìa cứng màu nâu, loại sổ học sinh khổ to, gáy đã bong.

Trang đầu ghi bằng bút bi: "Sổ gạo muối bếp trường. Năm 2006". Bên dưới là một hàng chữ khác, nét nghiêng nghiêng, uốn tròn. Tôi nhìn một lúc mới nhận ra. Đó là chữ Thái cổ. Bố tôi ngày xưa có dạy tôi đọc, tôi chỉ còn nhớ được ít.

Tôi ngồi trên gác kho, dưới ánh sáng lọt qua khe tôn, lật từng trang. Sổ ghi bằng tiếng Kinh, nét chữ to và vụng, có chỗ sai chính tả. Mỗi ngày một dòng. Gạo bao nhiêu cân, muối bao nhiêu, mỡ bao nhiêu, nấu món gì. Thỉnh thoảng có một dòng ghi thêm bên lề.

"Cháu Sính ốm. Nấu cháo riêng, cho thêm trứng."

"Mua thịt bằng tiền nhà. Không tính."

"Hết củi. Nhờ ông Páo."

Và lần nào cũng thế, cuối mỗi trang, có một dòng chữ Thái nhỏ. Tôi đánh vần từng chữ. Có chữ tôi đọc được, có chữ không. Tôi đọc được chữ "con", chữ "đói", chữ "ấm". Và một chữ lặp đi lặp lại nhiều nhất, chữ "nước".

Tôi lật đến những trang cuối. Năm 2008. Tháng Mười, tháng Mười một, tháng Chạp. Chữ ngày càng run. Có những dòng như bị viết lúc tay lạnh cóng, nét kéo dài ra ngoài lề.

"Mười lăm tháng Chạp. Ống đóng băng. Gánh nước khe. Bốn chuyến."

"Mười sáu tháng Chạp. Gánh sáu chuyến. Đau gối."

"Mười bảy tháng Chạp. Ống vỡ chỗ đá tảng. Mai gánh sớm cho kịp bữa."

Dòng ấy là dòng cuối cùng. Bên dưới có một chữ ký, cũng run như thế: "Lò Thị Ỏi". Những trang sau đó để trắng.

Tôi gấp cuốn sổ lại, ôm vào ngực, ngồi trên gác kho rất lâu. Lò là họ Thái. Ỏi là tên đàn bà Thái hay đặt ở vùng tôi. Khăn piêu, áo cóm cúc bướm. Bốn chuyến, sáu chuyến. Mai gánh sớm.

Chiều tối tôi mang cuốn sổ đi tìm cô Hiền, nhưng cô đang bận giữ học sinh ở dãy nhà ở. Một đứa lớp ba bảo tôi lớp một có đứa ốm. Tôi đặt cuốn sổ vào túi áo bông, chạy sang dãy nhà ở.

Dua nằm trong phòng cuối, trên cái giường tầng dưới, đắp hai cái chăn của chị nó và của bạn. Mặt con bé đỏ bừng, môi khô nứt, hai mắt nhắm nghiền. Cô Hiền ngồi bên cạnh, cầm cái khăn mặt ướt đắp lên trán nó. Cô bảo nó sốt từ chiều, cô đã cho uống thuốc hạ sốt mà chưa đỡ. Trạm y tế xã cách đây chín cây số, đường đóng băng, tối thế này không ai dám đi xe máy.

"Để em gọi thầy Lực. Sáng mai thầy chở đi sớm."

Tôi ngồi xuống mép giường, đặt tay lên trán con bé. Nóng như hòn than. Con bé mở mắt nhìn tôi, rồi nhìn lên phía cửa sổ. Ngoài cửa sổ trời đã tối hẳn, chỉ có sương muối trắng lờ mờ phủ trên sân.

"Bác gánh nước..."

Con bé thì thào. Cô Hiền nắm chặt tay tôi.

"Con muốn bác gánh nước."

Dua nói xong thì nhắm mắt lại, thở khò khè. Tôi nhìn ra cửa sổ, nhìn mãi. Trên mặt kính đọng hơi nước có một vệt, nhỏ, như vết đầu ngón tay ai đó vừa áp vào từ bên ngoài.