Chương 7: Khúc quanh đá tảng
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Tôi kể cho ông Páo nghe câu bà nói. Ông nghe xong thì quay mặt đi, đưa ống tay áo bông lên quệt mắt. Rồi ông bảo tôi đợi ông một lúc. Ông vào lán, lục lọi gì đó, rồi đi ra với một cái túi vải lanh nhỏ khoác chéo vai.
"Chị đi với tôi."
Ông dẫn tôi xuống lối mòn ra khe. Trời đã sáng hẳn, nắng yếu chiếu xiên qua rừng sa mu, sương muối trên lá bắt đầu tan, nhỏ giọt lộp độp. Ông Páo đi trước, chậm, chân đi giày vải bộ đội đặt từng bước chắc chắn lên chỗ có rễ cây. Tôi đi sau, nhìn những vệt nước đóng đá trên lối đang tan dần dưới nắng.
Đi được chừng hai phần ba đường thì lối mòn uốn một khúc gấp quanh một tảng đá lớn. Tảng đá cao ngang ngực người, mặt nghiêng ra phía vực, phủ rêu xanh sẫm. Lối mòn chỗ ấy hẹp hẳn lại, chỉ vừa một bàn chân, bên trong là vách đá, bên ngoài là dốc đứng xuống rừng. Đường ống nước đen chạy vắt qua mặt tảng đá, buộc vào một cái cọc sắt đóng sâu vào kẽ đá.
Tôi đã đi qua chỗ này mấy lần, cả lúc tối, mà không để ý. Chỗ này lúc nào cũng có băng. Nước rỉ từ vách đá chảy xuống mặt lối, đêm nào cũng đông lại thành một lớp trong suốt, trơn như mỡ.
Ông Páo dừng lại. Ông đứng nhìn tảng đá một lúc rồi ngồi xổm xuống, chỉ cho tôi xem dưới chân tảng đá, phía sát vực.
Ở đó có một đống đá nhỏ. Không phải đá đổ tự nhiên. Đá được xếp, từng hòn chồng lên nhau, cao chừng một gang tay. Hòn nào cũng phủ rêu, chỉ có mấy hòn trên cùng là còn trắng, mới.
"Mỗi năm tôi để một hòn. Mười năm rồi."
Ông mở túi vải, lấy ra một hòn đá cuội trắng bằng nắm tay, đặt lên trên cùng. Rồi ông lấy ra một cái chén sứ nhỏ, sứt miệng, rót vào đó ít rượu ngô từ một cái chai nhựa, đặt cạnh đống đá. Ông không khấn. Người Mông không khấn như người Thái, người Kinh. Ông chỉ ngồi im.
Tôi ngồi xuống cạnh ông. Ở đó nhìn xuống, dốc đổ thẳng vào một lòng khe đá tảng lổn nhổn, sâu chừng bốn năm sải tay. Cây cối mọc lưa thưa giữa đá. Dưới đáy, tôi thấy loáng thoáng một vệt nước, chính là con khe chảy tiếp xuống từ cái vũng tôi đã thấy.
Tôi hỏi ông Páo có phải bà Ỏi mất ở đây không. Ông không trả lời ngay. Ông móc túi lấy gói thuốc, cuộn một điếu, châm lửa. Tay ông run, phải bật đến ba lần mới cháy.
"Bà ấy không bỏ đi đâu được. Chị biết không. Bao nhiêu cấp dưỡng lên rồi lại về. Bà ấy thì không về."
Rồi ông kể cho tôi nghe chuyện những người nấu bếp sau bà Ỏi, đứt quãng, nhảy cóc, theo cái lối người già nói chuyện.
Năm 2009, trường thuê một cô người Kinh dưới thị trấn. Mùa đông năm đó ống lại đóng băng, và sáng nào bếp cũng đầy nước. Cô ấy tưởng ông Páo gánh giúp, cảm ơn ông mãi. Đến một hôm cô thấy bác gánh nước. Hôm sau cô bắt xe về luôn, không lấy lương.
Năm 2010, một bà người Mông ở bản dưới. Bà ấy nấu được nửa năm. Bà ấy hay lấy bớt gạo của học sinh mang về nhà. Mùa đông năm đó, ba thùng phuy sáng nào cũng khô. Không có nước, bà ấy phải gánh từ khe lên, gánh được mấy hôm thì bỏ.
Năm 2012 có bà Sò, cũng người Mông. Bà Sò ở được bốn năm. Ông Páo nói bà Sò thương bọn trẻ, đêm nào cũng dậy xem chúng nó có đắp chăn không. Mùa đông nào bếp bà Sò cũng đầy nước. Bà Sò biết, mà không sợ. Bà Sò bảo bà Ỏi giúp mình. Năm 2016 bà Sò yếu, con cái đón về, rồi mất.
Sau bà Sò thì người đến người đi. Có người ở được một tháng, có người ở được ba tuần. Chị Tâm làm trước tôi thì ở được hai tuần.
"Bà ấy xem. Người mới lên là bà ấy đứng xem."
Ông Páo nói, nhìn xuống đáy vực.
"Xem người ta có thương bọn trẻ không. Thương thì bà ấy gánh cho. Không thương thì bà ấy để khô."
Tôi nhớ lại cái sáng nền bếp đóng băng, hai thùng phuy khô trơ. Nhớ thằng Lử ngồi nhặt cơm lẫn tro. Tôi cúi đầu, không nói được gì.
Ông Páo hút hết điếu thuốc, dụi vào đá. Ông nhấc cái chén rượu lên, hắt xuống vực. Rồi ông đứng dậy, phủi đầu gối. Tôi tưởng ông sẽ đi về. Nhưng ông đứng đó, nhìn vào mặt tảng đá rêu, chỗ đường ống vắt qua.
"Chị hỏi bà ấy mất ở đây không."
"Vâng."
Ông Páo đưa tay sờ vào cái cọc sắt buộc ống. Cái cọc gỉ đỏ, nhưng tôi thấy chỗ dây thép buộc ống còn mới, như mới được ai buộc lại.
"Đêm ấy ống vỡ ở chỗ này. Hôm trước bà ấy bảo tôi xuống buộc lại. Tôi bảo để mai."
Ông quay lại nhìn tôi. Lần đầu tiên từ hôm tôi lên trường, ông nhìn thẳng vào mắt tôi, lâu, không né.
"Sáng hôm sau là tôi khiêng bà ấy từ dưới kia lên."