Chương 7: Đêm mất điện
Khoảng 5 phút đọc·9lượt xem
Tối thứ năm cuối tháng Mười, khu tôi mất điện như lệ. Nhưng mười giờ điện không có lại. Mười một giờ cũng không. Nghe nói trạm biến áp ở Cầu Đất nổ, cả mấy phường tối om.
Hành lang tầng bốn lần lượt im. Người ta cuốn chiếu vào nhà, đóng cửa, thắp đèn dầu một lúc rồi thổi tắt. Chỉ còn tiếng ếch nhái dưới cái ao ngoài bãi đất trống, tiếng chó sủa xa, và tiếng gió sông lùa qua những song sắt chuồng cọp.
Mười một giờ, bên kia tường gõ ba. Tôi gõ đáp ba.
Rồi tôi ngồi dậy, lấy cái đèn pin, lấy chiếc chìa có chữ K bỏ vào túi quần. Tôi không định mở cửa phòng 47. Giấy niêm phong vẫn là giấy niêm phong. Nhưng cái chuồng cọp sau bếp nhà tôi và chuồng cọp nhà ông Khải chỉ cách nhau một tấm tôn ngăn, cao ngang ngực.
Tôi không biết điều gì đẩy tôi đi. Có lẽ là lá thư trong túi áo ngực. Có lẽ là ba vết lõm trên bia mộ. Có lẽ tôi chỉ muốn biết, một lần, ai đã gõ với tôi suốt hai tháng nay.
* * *
Tấm tôn ngăn đã gỉ mục, tôi đẩy nhẹ một góc là nó oằn ra. Tôi chui qua, chân giẫm lên đống lá khô và phân chim dày cộm. Chuồng cọp bên ấy trống trơn, chỉ có một cái chậu sành trồng cây si đã chết khô, rễ bò tràn ra ngoài như những ngón tay gầy.
Cửa sổ từ chuồng cọp vào phòng 47 là loại cửa chớp gỗ. Một cánh đã bung bản lề, treo lệch. Tôi lách người qua.
Bên trong tối đặc. Không khí đặc quánh như một cái hũ đậy kín mười năm. Tôi bật đèn pin.
Phòng 47 rộng hơn phòng tôi, là căn góc nên có thêm một cửa sổ nữa nhìn ra phía sông Cấm, giờ đóng kín, kính phủ bụi đen. Giữa phòng có cái giường sắt, đúng kiểu giường phòng tôi, kê sát bức tường chung. Không có chiếu. Chỉ có tấm phản gỗ trơ trọi, giữa phản loang một vệt sẫm hình người, khô cứng như lớp sơn dầu.
Dưới chân giường là cái chậu nhôm bà Lựu kể. Trong chậu có một vòng cặn trắng.
Cái quạt cây đứng ở góc. Đầu quạt quay về phía giường.
* * *
Tôi rọi đèn quanh phòng. Một cái tủ gỗ cánh mở, trong trống không. Một cái bàn thờ nhỏ đóng trên tường, cao ngang mắt. Trên bàn thờ không có bát hương, không có ảnh, không có gì. Chỉ có một vệt tường sạch hình chữ nhật, nơi từng treo một khung ảnh, và một vòng tròn sạch trên mặt gỗ, chỗ đặt bát hương.
Tôi nghĩ phường đã dọn đi. Lúc ấy tôi nghĩ thế.
Rồi tôi rọi đèn vào bức tường chung, chỗ đầu giường.
Trên lớp vôi xanh, ngay sát mặt phản, ngang tầm một người nằm nghiêng, có những vết lõm. Rất nhiều vết lõm nhỏ, chi chít, mỗi cụm ba vết thẳng hàng. Có cụm sâu đến lộ gạch. Có cụm dính những vệt nâu sẫm đã khô thành vảy.
Ai đó đã nằm trên cái giường này, quay mặt vào tường, và gõ. Gõ đến rớm máu ngón tay. Gõ mãi, ba tiếng một, mà không ai đáp.
Tôi nghĩ đến ông Khải những ngày cuối. Một ông già ốm liệt, nằm đây gõ sang phòng bên cầu cứu, trong lúc thằng hàng xóm duy nhất đã bỏ đi. Phòng bên trống. Không ai nghe.
Lúc ấy tôi tin là thế. Tôi đứng đó thương ông Khải đến nghẹn họng.
* * *
Tôi lùi lại một bước. Gót chân tôi chạm vào cái chậu nhôm, nó kêu một tiếng keng khô khốc. Và trong tiếng vang ấy, tôi nghe thấy có tiếng trở mình.
Trên tấm phản, chỗ vệt sẫm hình người, có ai đang nằm.
Tôi không biết nó ở đó từ lúc nào. Ánh đèn pin trong tay tôi run lên, chấm sáng nhảy lung tung trên tường. Tôi cố giữ nó lại. Tôi thấy một tấm lưng gầy, quay về phía tôi, mặc một cái áo bộ đội bạc màu, vai vá miếng vải khác màu. Cái áo ngắn, cổ tay áo chỉ đến giữa cẳng tay, để lộ hai cánh tay dài và trắng bệch.
Hai bàn chân thò ra khỏi mép phản. Dài. Trắng. Ngón chân thâm tím.
Tôi đứng trơ ra, cổ họng khô khốc. Tôi nghe mình nói, giọng không ra tiếng:
"Ông Khải."
Cái người trên phản không quay lại. Một bàn tay giơ lên, chậm chạp, đặt lên bức tường chung. Những ngón tay dài, đốt ngón sưng vù, rách da. Nó gõ.
Cộc. Cộc. Cộc.
Rồi nó đợi.
Tôi biết nó đang đợi ai. Bên kia bức tường ấy là phòng tôi. Là cái giường của tôi. Là chỗ tôi nằm mỗi đêm để gõ đáp.
Không có ai đáp cả.
Nó gõ lại. Ba tiếng. Mạnh hơn. Đợi. Ba tiếng nữa, gấp gáp, những ngón tay đập vào vôi như đập vào cửa một căn nhà cháy.
Tôi quay người lao ra cửa sổ. Vai tôi đập vào cánh cửa chớp, cánh cửa bung hẳn rơi xuống chuồng cọp. Tôi chui qua tấm tôn, bàn tay phải miết vào mép tôn gỉ, rách một đường dài từ cổ tay xuống lòng bàn tay. Tôi không thấy đau.
* * *
Tôi ngồi bệt trên nền bếp phòng mình, tay quấn cái khăn mặt, máu thấm đỏ. Đèn pin lăn lóc ở đâu đó. Bóng tối đặc như mực.
Tôi đã quên mất một điều. Tôi đã ra khỏi phòng mà không gõ đáp lần thứ hai. Và đêm nay, bên kia đã gõ ba lần.
Bức tường chung im phăng phắc.
Rồi tôi nghe tiếng gõ. Không phải trên tường ngang đầu giường như mọi khi. Nó ở thấp, sát nền nhà, ngay dưới gầm giường tôi, chỗ đôi dép tổ ong vẫn hay tự tìm về.
Cộc. Cộc. Cộc.
Như có người đang nằm dưới sàn phòng tôi, áp má xuống gạch hoa, và gõ lên.