Chương 1: Gian nhà ngang
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi về làng trống Đọi Ngoại vào ra Giêng năm 2013, sau Tết chừng mười ngày. Làng nằm dưới chân núi Đọi, thuộc huyện Duy Tiên, Hà Nam, đường vào phải đi qua một con đê đất, hai bên ruộng còn trơ gốc rạ. Ba mươi tuổi, tôi đã bịt trống được mười hai năm, học nghề ở một xưởng trống lân dưới Hà Đông. Xưởng ấy dẹp, người quen giới thiệu tôi về làm thuê cho anh Quý, chủ một xưởng trống to nhất xóm Đình.
Anh Quý ngoài năm mươi, người thấp, tay to như cái mái chèo. Anh nhìn tay tôi trước khi nhìn mặt. Anh lật bàn tay tôi lên, sờ mấy chỗ chai ở gốc ngón cái, gật một cái.
"Ăn cơm nhà tao, ngủ thì sang nhà bà thím. Chú tao mới mất, bà ở một mình, có người ở cho bà đỡ sợ."
Chú anh là cụ Lãm, thợ cả của làng. Cụ mất tháng Chạp, thọ tám mươi hai. Cả làng Đọi Ngoại, ai làm trống cũng từng đứng nhìn cụ căng da ít nhất một lần. Anh Quý nói vậy, giọng như kể chuyện ông tổ.
Nhà cụ cách xưởng hai ngõ. Ba gian nhà ngói cũ, sân gạch đỏ rêu bám kẽ, một cây nhãn già che kín góc sân. Gian nhà ngang thấp hơn nhà trên, xây vuông góc, cửa gỗ hai cánh then cài, trong đặt một cái giường xoan kê sát vách. Bà cụ, bà Nhẫn, đã bảy mươi bảy, lưng còng, tai nặng. Bà dẫn tôi sang, mở cửa, đứng ở bậc thềm nhìn vào rất lâu.
"Anh nằm đấy. Giường ấy chắc, ông ấy đóng bằng xoan ngâm."
Trên vách đất, ngay đầu giường, treo một cái dùi trống. Dùi gỗ ổi, dài hơn gang tay một chút, đầu dùi tròn, cán đã bóng lên vì tay người cầm. Ở cán có khắc một chữ T nhỏ bằng mũi dao. Tôi định gỡ xuống cất đi cho khỏi vướng, bà xua tay.
"Để đấy. Cái gì trong gian ấy cũng để nguyên đấy."
Tôi để nguyên.
Buổi đầu ở xưởng, anh Quý giao tôi bịt một cặp trống trung cho một đội múa lân ở Phủ Lý. Xưởng là cái sân rộng, quây tôn, mùi da trâu ngâm vôi xộc lên tận mũi từ ngoài ngõ. Mấy tấm da tươi ngâm trong bể xi măng, nước đục như nước gạo, nổi váng. Da khô thì phơi trên giàn tre, căng bằng dây đay, trắng ngà như giấy dó. Thợ làng nói giọng Hà Nam, nhanh, cắt cụt cuối câu, tôi nghe được tám phần.
Tôi làm đến tối, tay sặc mùi vôi. Ăn cơm nhà anh Quý xong tôi về gian nhà ngang. Bà Nhẫn đã đóng cửa nhà trên, đèn bàn thờ đỏ hắt ra ngoài khe cửa. Ngoài sân gió đồng thổi qua cây nhãn, lá khô rơi lộp độp xuống gạch. Tôi nằm, kéo chăn, nhìn cái dùi trên vách một lúc rồi ngủ.
Tôi mơ.
Trong mơ tôi vẫn nằm ở cái giường ấy, gian nhà ngang ấy, nhưng sáng hơn, như có đèn dầu đặt dưới đất. Cuối giường có một ông cụ ngồi. Người gầy, lưng thẳng, mặc áo cánh nâu bạc, quần xắn đến gối, chân trần. Tóc cụ cắt cua, trắng hết. Trên đùi cụ đặt một cái trống con, cái loại trống nhỏ thợ làng dùng thử da, mặt trống ngà vàng.
Cụ không nhìn tôi. Cụ nhìn ra cửa, như chờ ai từ ngoài sân bước vào.
"Trống cái ở đình. Đừng thay da."
Giọng cụ khàn, chậm, mỗi chữ như bị kéo qua cát.
Nói xong cụ đặt ngón tay lên mặt trống con. Tùng. Tùng. Tùng. Rồi nghỉ.
Cụ nghỉ lâu, đủ cho tôi nghe tiếng mình thở. Rồi lại ba tiếng. Lại nghỉ.
Ba tiếng một. Không nhanh không chậm, đều như người ta thở lúc ngủ say.
Tôi muốn hỏi cụ là ai, nhưng miệng không mở ra được. Hơi lạnh từ cuối giường bò lên bắp chân, ẩm như hơi bể ngâm da. Cụ lại nói câu ấy lần nữa. Rồi đèn tắt.
Tôi tỉnh dậy khi gà nhà bên gáy. Trong gian tối om, chăn tuột xuống đất. Tôi nằm im nghe ngóng. Ngoài sân không có tiếng gì. Dế dưới gốc nhãn hình như cũng im.
Sáng ra tôi với tay lấy áo trên vách thì chạm phải cái dùi.
Cái dùi ướt. Không phải ẩm sương. Ướt sũng, như vừa nhúng vào chậu nước rồi treo lại. Nước còn đọng thành giọt ở đầu dùi, nhỏ xuống gối tôi một vệt tròn bằng đồng xu.
Tôi cầm dùi lên. Gỗ ổi lạnh ngắt, nặng tay hơn hôm qua. Mùi trên dùi không phải mùi nước mưa. Là mùi da ngâm, mùi vôi, cái mùi tôi vừa ngửi suốt một ngày ở xưởng.
Tôi lau dùi bằng vạt áo, treo lại chỗ cũ. Ra sân rửa mặt, tôi thấy bà Nhẫn đứng dưới gốc nhãn, tay cầm chổi, nhìn sang gian nhà ngang.
"Đêm qua anh ngủ có yên không?"
Tôi nói yên. Bà gật, cúi xuống quét. Tôi đi được mấy bước thì nghe bà nói thêm, giọng nhỏ, không biết là nói với tôi hay nói một mình:
"Ông ấy về đấy."
Trưa hôm ấy ở xưởng có khách. Một ông trạc sáu mươi lăm, mặc áo khoác bộ đội cũ, đội mũ cối, đạp xe đạp vào tận sân. Anh Quý đon đả mời nước. Ông là ông Hiển, trưởng ban khánh tiết đình làng.
"Trống cái đình mình, da chùng lắm rồi, đánh nghe như đánh vào chăn bông. Ra hội tháng Ba mà để thế thì nhục với làng bên. Ban khánh tiết họp rồi, thay da mới. Làm ngay ra Giêng cho kịp phơi."
Anh Quý gật, rót thêm nước, rồi quay sang chỉ tôi.
"Thằng này tay chắc. Để nó làm. Da thì tôi chọn cho bác tấm trâu đực đẹp nhất bể."
Ông Hiển nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi gật. Họ nói tiếp chuyện tiền, chuyện ngày lành tháo trống. Tôi đứng cạnh bể da, không nghe được câu nào. Trong đầu tôi chỉ còn giọng khàn kéo qua cát.
Trống cái ở đình. Đừng thay da.
Tôi nhìn xuống tay. Tôi đang nắm chặt một cái dùi của xưởng, nắm mạnh đến mức móng tay hằn trắng vào gỗ.