Chương 10: Căng lại mặt da
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Chúng tôi ngồi ở một quán cóc cạnh xưởng, hai cốc trà đá tan hết đá mà không ai uống. Tôi kể từ đầu. Anh Tình nghe, không ngắt lời một lần. Đến đoạn tấm nilon tháng Chạp, anh úp mặt vào hai bàn tay. Vai anh rung, nhưng không có tiếng.
Mãi anh mới nói. Giọng anh vẫn giọng Hà Nam, chỉ cuối câu đã mềm đi như người trong này.
Năm ngoái anh ốm một trận dài, sốt, ho, nằm phòng trọ gần bốn tháng. Xưởng cũ cho nghỉ. Điện thoại bị lấy mất lúc anh nằm mê. Tết năm ngoái anh không có đồng nào gửi về. Anh định bụng đi làm lại, dành dụm được thì gửi gấp đôi, rồi năm nay về hẳn, về xin bố. Anh cứ định bụng như thế mười lăm năm.
"Tôi tưởng bố còn giận. Bố không trả lời lá nào."
Tôi kể bà Nhẫn giữ đủ mười ba tờ phiếu trong hộp trầu, cụ đọc từng tờ. Tiền cụ không tiêu một đồng. Anh Tình ngồi im. Rồi anh đứng dậy, vào xưởng xin nghỉ.
Chúng tôi ra ga Sài Gòn bắt tàu Thống Nhất. Suốt hai đêm trên tàu anh gần như không ngủ. Anh ngồi bên cửa sổ, cái dùi đặt trên đùi, ngón cái miết chữ T như cụ miết trong mơ.
Về đến Đọi Ngoại, anh không vào nhà ngay. Anh đi thẳng lên núi, quỳ trước nấm mộ đất đỏ, quỳ đến tối. Bà Nhẫn chống gậy đứng ở cổng chờ. Lúc anh về, bà không khóc, chỉ đưa tay lên sờ mặt anh, sờ cằm, sờ cái xương má nhô ra.
"Gầy thế này à con."
Đêm ấy anh Tình chưa nằm cái giường. Anh ngồi bên mép giường, lật chiếu lên, nhìn chữ T và con trâu khắc vụng rất lâu. Tôi sang nằm nhà anh Quý.
Sáng hôm sau anh ra đình. Ông Hiển, ông Cò, anh Quý và nửa xóm Đình đứng chờ sẵn. Anh xin ông Hiển cho căng lại mặt da cũ. Ông Hiển không nói một câu, chỉ gật.
Anh làm ba ngày. Nhổ hai vòng đinh tre, quấn khăn ướt quanh mép da cho mềm dần, không ngâm cả mặt. Anh đẽo đinh mới bằng tre bánh tẻ, chiếc nào cũng chuốt một góc như đinh cũ. Đến hôm thứ ba thì buộc dây, đặt tời. Tôi và anh Quý quay tời. Anh Tình áp tai vào tang trống, bảo căng thêm, căng thêm, rồi giơ tay lên.
"Thôi."
Anh lần lượt cắm đinh. Cắm xong vòng thứ hai, anh xin một chậu nước. Ông Cò bưng ra. Anh nhúng đầu dùi vào chậu, nhấc lên, quay lại nhìn tôi.
"Bố tôi thử da kiểu này. Không truyền ra ngoài. Da phơi đủ râm thì chín cả trong lẫn ngoài, dùi ướt đánh vào nước tự lăn đi. Da phơi vội, ngoài khô mà trong còn sống, gặp nước nó ngót lại ở giữa. Đánh vào là toác từ tâm."
Anh kể, mặt trống nào bố anh thử không đạt, bố đánh cho nứt luôn. Không để thợ khác mang ra đình, mang ra chùa làm xấu mặt cả làng nghề. Tôi nhớ tấm da trâu đực phơi có hơn tuần, cứng như tôn. Nhớ cái trống trung để giữa nắng gắt tháng Giêng. Cụ không trách tay tôi. Cụ thử da, trước mặt người cụ tưởng là con.
Anh Tình đánh. Tâm, lưng, tang.
Nước trên đầu dùi bắn ra thành những hạt nhỏ, lăn tròn trên mặt da rồi rơi xuống nền gạch. Mặt trống không nứt. Tiếng trống đi ra khỏi gian bên tả, qua sân đình, qua cái ao bán nguyệt, đi mãi. Tiếng trầm mà trong. Cái ngân dài tôi nghe hôm đầu, cái ngân còn sống dưới lớp đục, giờ trồi hẳn lên. Mấy bà già đứng ở sân chắp tay.
"Tiếng trống cụ Lãm đấy."
Hội tháng Ba năm ấy, anh Tình đánh hồi trống khai hội. Ông Hiển đứng cạnh, mặc áo the, cầm hộ anh cái khăn lau mồ hôi.
Đêm hôm khai hội, anh Tình mới nằm xuống cái giường xoan. Tôi ngủ nhờ nhà anh Quý. Sáng ra tôi sang thì anh đang ngồi ở bậc cửa gian nhà ngang, đúng chỗ cụ ngồi trong giấc mơ cuối cùng của tôi.
Anh kể ngắn. Bố ngồi cuối giường. Lần này bố nhìn thẳng mặt anh, không dặn gì. Bố đặt cái trống con lên đùi, gõ ba tiếng một. Một lần thôi. Rồi bố đứng dậy, đi ra cửa, đi qua sân, đi qua gốc nhãn, đi luôn.
"Áo bố khô rồi," anh nói. "Khô cong."
Từ đêm ấy, cái dùi treo trên vách không ướt nữa. Hàng xóm cũng không ai nghe tiếng trống con trong nhà cụ.
Anh Tình vào Sài Gòn thu xếp, trước Tết năm 2014 thì về hẳn. Anh mở một xưởng nhỏ ngay trong sân nhà, dưới gốc nhãn, chỉ nhận bịt trống đình trống chùa, da nào cũng phơi râm bốn mươi ngày. Bà Nhẫn sống thêm ba cái Tết với con trai rồi mới đi, đi nhẹ, trong lúc ngủ trưa. Ông Hiển vận động làng lợp lại mái gian bên tả, không còn dột. Cái trống cái đến giờ vẫn là mặt da con Mốc.
Tôi làm cho anh Quý thêm một năm, thuê nhà ở xóm khác. Năm 2015 tôi về Kim Sơn mở xưởng riêng, mấy hôm trước khi về, anh Tình dạy tôi cách thử nước. Anh bảo bố anh không truyền ra ngoài, nhưng tôi thì đã nghe bố anh dặn ba lần rồi, coi như người trong nhà.
Bây giờ xưởng tôi cũng có một chậu nước kê cạnh khung tời. Mỗi lần bịt xong một mặt trống, tôi nhúng dùi, khum tay nghe, rồi đánh ba tiếng. Tâm, lưng, tang. Xong tôi nghỉ. Tôi nghỉ lâu hơn cần thiết một chút, mắt không nhìn mặt trống mà nhìn ra cửa xưởng, như còn chờ ai ngoài sân đáp lại.