Chương 3: Mẻ rơm đầu mùa
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Cuối tháng Chín tôi đốt mẻ đầu tiên. Mười hai cái tượng đã khô trắng, thêm mấy cái nồi kho cá, mấy cái lu nhỏ dì Phiến gửi đốt chung. Dì Phiến là em gái mẹ tôi, nhà sát vách, chỉ cách một hàng rào dâm bụt.
Đốt gốm ở làng tôi phải chọn ngày không gió. Sáng đó trời trong, mây đứng yên trên dãy núi phía tây. Tôi với dì Phiến trải một lớp củi khô dưới đất, xếp gốm lên, cái lớn ở dưới, cái nhỏ ở trên, tượng đặt nằm nghiêng chèn giữa cho khỏi đổ. Rồi phủ rơm lên, phủ thêm củi, thêm một lớp rơm nữa, chất thành một cái đống tròn cao ngang ngực. Dì Phiến chỉ chỗ này hở, chỗ kia dày quá, miệng nhai trầu, nói không ngừng.
"Rơm năm nay ẩm, đốt từ từ thôi Nga. Lửa bốc nhanh là bể hết."
Tôi châm lửa từ hướng có gió nhẹ. Khói trắng bốc lên đầu tiên, mùi rơm khét ngai ngái, rồi khói vàng, rồi lửa liếm qua lớp ngoài thành từng vệt cam. Đốt lộ thiên thì phải canh cả buổi, cầm cây sào dài, chỗ nào lửa yếu thì đắp thêm rơm, chỗ nào trơ gốm ra thì phủ lại. Mặt tôi rát. Mồ hôi chảy vô mắt cay xè.
Mẹ tôi ngồi dưới hiên coi. Năm nào đốt mẻ đầu bà cũng ngồi coi, như người ta coi đám cưới con cháu. Năm nay bà ngồi im hơn mọi năm, mắt không rời đống lửa.
Tới xế chiều thì đống rơm tàn, lớp củi dưới cùng đỏ rực. Gốm nằm trong than, đỏ như sắt nung. Tôi lấy sào khều từng cái ra, đặt lên nền đất, rồi dì Phiến cầm cái chổi rơm nhúng vào thùng nước vỏ cây quét lên. Nước vỏ cây gặp gốm nóng kêu xèo xèo, bốc khói, để lại những vệt nâu đen loang trên nền đỏ. Gốm Bàu Trúc có màu đó là nhờ vậy.
Cái nồi thứ ba tôi khều ra thì nghe một tiếng "tách".
Tiếng nứt của gốm nóng ai làm nghề cũng quen. Thường là một đường thẳng, chạy từ miệng xuống, hoặc vòng quanh đáy. Nhưng đường nứt trên cái nồi này không thẳng. Nó chạy xuống một đoạn, rồi bẻ ngang, rồi cong lại thành một cái móc, như ai lấy đầu đinh vạch lên đất ướt. Tôi đứng nhìn, cái sào còn trong tay. Đường nứt nhỏ, đều, mép không sứt mẻ chút nào.
Dì Phiến cúi xuống nhìn, ngừng nhai trầu.
"Nứt kiểu gì kỳ vậy con?"
Tôi nói con không biết. Hai dì cháu xoay cái nồi qua lại dưới nắng chiều. Càng nhìn càng thấy nó giống một nét chữ hơn là một vết nứt. Không phải chữ nào tôi biết. Chỉ là một cái móc, có đầu có đuôi, như chữ người ta viết dở.
Mẹ tôi chống gậy đi ra. Bà không cúi xuống nhìn kỹ. Bà nhìn từ xa, rồi bảo tôi:
"Đem chôn đi. Đừng bán, đừng để trong nhà."
Tôi không chôn. Tôi đem cái nồi qua nhà ông Hàm ở cuối xóm. Ông Hàm năm nay ngoài tám mươi, hồi trẻ học chữ Chăm cổ với các thầy trên đền, là người cuối cùng trong làng còn đọc được những dòng chữ trên các tấm bia ở tháp. Tôi nghĩ, nếu đó là chữ thì chỉ có ông đọc được.
Ông Hàm đeo kính, lật cái nồi trên đùi, lấy ngón tay dò theo đường nứt. Ông dò hai lần, rồi lắc đầu.
"Không phải akhar thrah. Chữ mình không có nét nào móc ngược vầy."
Tôi hỏi có phải điềm gì không. Ông cười, cái cười móm của người không còn răng. Ông nói đất nứt thì là đất nứt, con đốt rơm ẩm thì nứt, đừng nghĩ nhiều. Nhưng lúc tôi đứng dậy về, ông giữ tay tôi lại.
"Đất đó lấy ở đâu?"
"Khoảnh mới phía đông bàu, chỗ có bụi xương rồng."
Ông Hàm im một lúc. Ông nói hồi trước người ta không đào chỗ đó. Tôi hỏi tại sao. Ông nói ông không nhớ, chỉ nhớ người già dặn để yên, có người mất ở đó. Rồi ông buông tay tôi, quay vô nhà, như sợ nói thêm.
Tôi về tới nhà thì trời đã nhá nhem. Gốm trên sân còn ấm, đỏ nâu dưới ánh đèn hiên. Mười hai cái tượng còn nguyên mười một, một cái gãy cái lu trên đầu. Tôi bê hết vô hiên.
Đêm đó tôi ngủ say vì mệt. Tôi không nghe thấy gì. Sáng ra là Mai đánh thức tôi, con bé đứng ở cửa buồng chứa củi, chỉ vô trong.
Cái tượng đầu tiên, cái mang gương mặt con nít mà tôi đã bê vô góc buồng, trùm bao bố, giờ không còn ở góc. Nó đứng giữa ngưỡng cửa sau, ngay trên bậc xi măng, cái bao bố rơi dưới chân. Tượng chưa nung, đất còn mềm, một vạt váy đã bị đè bẹp vì ai đó nhấc lên đặt xuống. Gương mặt con nít quay ra ngoài sân.
Tôi đứng sau lưng cái tượng, nhìn theo hướng nó nhìn. Qua sân, qua hàng rào dâm bụt, qua cánh đồng nho, là con đường nhựa của quốc lộ 1, xe tải chạy ầm ầm từ sáng sớm.
Mai hỏi nhỏ:
"Nó nhìn ra đường hả mẹ?"
Tôi không trả lời. Tôi đã hiểu cái tượng không nhìn ra đường. Tôi đứng đúng chỗ nó đứng để biết hướng. Mặt tượng quay về phía bắc, phía xe chạy ra Nha Trang, ra miền Trung.
Trên bậc xi măng, kéo từ ngưỡng cửa ra tới mép sân, có một hàng vết đất màu gan gà. Không phải dấu chân. Là dấu tay, năm ngón nhỏ xíu, như có ai bò bằng hai tay đi ra phía đó rồi dừng lại.