Chương 5: Nét chữ trên lưng nồi
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Sáng ra Mai hết sốt. Con bé ngồi dậy, đòi ăn cháo, không nhớ gì về đêm qua. Tôi hỏi con có thấy gì không, nó nói chỉ nhớ nằm mơ thấy đi trên một con đường đông người, ai cũng gánh gồng, nó đi lạc, cứ đi hoài mà không tới.
Ra hiên sau, tôi thấy cái tượng đã rơi khỏi tấm ván. Nó nằm nghiêng trên nền xi măng, không gãy, không mẻ, chỉ có cái lu trên đầu móp vô một bên. Gương mặt con nít vẫn quay về phía bắc. Tôi dựng nó lên, tay run, rồi đi qua nhà dì Phiến.
Dì Phiến đang ngồi lặt rau muống. Tôi ngồi xuống cạnh, chưa kịp hỏi thì dì đã nói:
"Tối qua dì nghe tiếng con nít khóc bên nhà con. Mấy đêm rồi đó. Dì biết."
Tôi hỏi dì biết gì. Dì Phiến lặt hết bó rau, bỏ vô rổ, rồi mới nói. Năm bảy lăm dì hai mươi tuổi, chưa có chồng, còn ở chung nhà với mẹ tôi. Hồi đó đầu tháng Tư, người ở miền ngoài chạy vô như nước vỡ bờ. Xe đò, xe lam, xe bò, người đi bộ, kéo dài trên quốc lộ cả ngày cả đêm. Lính cũng chạy. Có đêm nghe súng nổ ở phía Du Long, cả làng tắt đèn nằm im.
"Một bữa chị Ra đi chợ về, cõng theo một đứa con nít. Con gái, người Kinh, chừng sáu tuổi. Chị nói lượm được ở gốc me ngoài đầu đường, nó ngồi đó khóc, người lớn đi qua không ai ngó."
"Rồi nó đi đâu?"
Dì Phiến nhìn xuống rổ rau. Dì nói con nhỏ ở nhà mình chừng mười ngày. Nó sốt từ lúc lượm về, sốt hầm hập, có lúc tỉnh, có lúc mê. Hồi đó trạm xá không ai trực, thuốc men không có. Mẹ tôi lấy lá xông, lấy khăn đắp, ngồi canh suốt đêm. Lúc con nhỏ tỉnh thì mẹ tôi đưa cho nó cục đất sét, dạy nó nặn con gà, con chó cho đỡ khóc.
"Rồi nó mất. Chị Ra chôn nó. Chôn ở đâu dì không biết, chị không cho dì đi theo. Hồi đó người lớn dặn đừng nói ra. Mới đổi chế độ, ai cũng sợ, con người Kinh chết trong nhà người Chăm, người ta hỏi tới thì biết nói làm sao."
Tôi ngồi lặng. Tôi nghĩ tới cái chén sành dưới gốc xương rồng. Tôi hỏi con nhỏ tên gì, nhà ở đâu. Dì Phiến lắc đầu, nói dì không nhớ, chỉ có mẹ tôi nói chuyện với nó nhiều. Rồi dì nhớ ra một chuyện, ngẩng lên.
"Con nhỏ đó biết viết. Bữa nó tỉnh, nó lấy cây que viết tên nó dưới sân cho chị Ra coi. Mà chị Ra đâu có biết đọc chữ quốc ngữ. Dì cũng không biết. Hai chị em đứng nhìn mấy cái chữ, rồi mưa xuống, trôi mất."
Tôi về nhà, không nói với mẹ là đã qua dì Phiến. Chiều đó tôi đốt mẻ thứ hai.
Mẻ này nhỏ, mười cái tượng và năm cái nồi đất kho cá. Tôi xếp kỹ, rơm phơi ba nắng cho khô giòn, chọn buổi chiều lặng gió nhất. Lửa lên đều, khói trắng thẳng một cột lên trời. Mẹ tôi lần này không ra hiên coi. Bà ở trong buồng, đóng cửa.
Gần tối, tôi khều gốm ra. Mười cái tượng nguyên vẹn. Bốn cái nồi nguyên vẹn. Cái nồi thứ năm tôi vừa đặt xuống đất thì nghe tiếng "tách", y như lần trước.
Lần này đường nứt dài hơn. Nó chạy dọc lưng nồi, rồi uốn hai vòng tròn chồng lên nhau, một vòng trên, một vòng dưới, nối vào một nét thẳng đứng. Rõ ràng, không lẫn được. Tôi học hết lớp chín, tôi đọc được chữ quốc ngữ. Đó là chữ B. Chữ B hoa, nét run run, vòng dưới to hơn vòng trên, như chữ của đứa con nít mới vô lớp một, cầm bút chưa vững.
Tôi ngồi bệt xuống đất cạnh cái nồi. Nước vỏ cây trong thùng còn bốc hơi. Tôi lấy cái nồi lần trước ra, cái có đường móc mà ông Hàm đọc không được, đặt cạnh cái mới. Tôi nhìn lại đường móc ấy, lần này bằng con mắt của người đọc chữ quốc ngữ. Một nét sổ thẳng, rồi một cái móc vòng ra bên phải. Đó là chữ h thường, viết vụng.
Không phải chữ Chăm. Là chữ của con nhỏ người Kinh, cái chữ nó từng viết dưới sân nhà tôi bốn mươi ba năm trước, cái chữ mà mẹ tôi với dì Phiến nhìn mà không đọc được.
Mai đi ra, đứng sau lưng tôi. Con bé nhìn hai cái nồi, im một lúc rồi nói:
"Mẹ ơi, tối hôm qua con nằm mơ, con nhớ ra rồi. Có đứa con nít nắm tay con viết lên đất. Nó viết từng chữ, viết một chữ thì xoá, rồi viết chữ khác. Nó nói chị đọc giùm em, cô Ra không biết đọc."
Tôi quay lại nhìn con. Mai không có vẻ sợ. Con bé có vẻ buồn, cái buồn của người vừa nghe một đứa nhỏ hơn mình nhờ một chuyện mà mình chưa làm được.
Tối đó mẹ tôi vẫn ngồi trước ti vi, dù không phải tối thứ Bảy. Ti vi tắt. Bà ngồi nhìn cái màn hình đen, tay ôm cái rương gỗ trong lòng, như ôm một đứa con nít.
Tôi đi ngủ mà không ngủ. Gần khuya, tôi ngồi dậy, lấy cây đèn pin, mặc áo khoác. Tôi quyết định ra bãi đất ven bàu, ngồi chờ ở bụi xương rồng.
Lúc tôi dắt xe ra cổng, đèn hiên sau tự tắt. Không phải cúp điện, đèn phòng khách vẫn sáng. Chỉ có cái bóng tuýp dưới cây me chớp hai cái rồi tắt hẳn. Trong cái tối đó, tôi nghe tiếng một vật bằng đất rất nhỏ lăn trên nền xi măng, lăn từ hiên ra tới sân, rồi dừng lại sát bánh xe tôi.