☾ Truyện Ma Có Thật
← Tượng đất Bàu Trúc

Chương 6: Đêm canh bãi đất

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tôi rọi đèn pin xuống chân. Sát bánh xe là một con gà bằng đất sét, to cỡ ngón tay cái, chưa nung, khô xám. Mỏ nhọn, đuôi vểnh, hai cái cánh là hai vết ấn móng tay. Trên lưng con gà còn nguyên dấu mấy đầu ngón tay nhỏ bóp vào. Đất đã khô lâu năm, cầm lên nhẹ tênh, cạnh đuôi mòn tròn như được ai cầm vuốt nhiều lần.

Tôi không biết nó từ đâu ra. Trong nhà tôi không có con gà đất nào như vậy. Tôi bỏ nó vào túi áo khoác, đề máy xe, chạy ra bàu.

Đêm cuối tháng Mười, trời có trăng khuyết, đủ sáng để thấy con đường đất trắng giữa hai bờ ruộng. Gió ở bàu thổi lồng lộng, mang theo mùi nước đọng, mùi cỏ may, mùi phân bò khô. Tôi dựng xe ở chỗ hàng rào kẽm gai, lách qua khe cổng mà người lấy đất hay chui. Bụi xương rồng già đứng đen sừng sững ở mép hố, mấy nhánh chĩa lên trời như những ngón tay.

Tôi ngồi xuống một bao đất cũ cách hố chừng chục bước, tắt đèn pin. Con gà đất trong túi áo cứ cấn vào hông.

Lúc đầu chỉ có tiếng ếch nhái dưới bàu, tiếng gió lùa qua cỏ, thỉnh thoảng một chiếc xe tải chạy trên quốc lộ ầm ì từ xa. Tôi ngồi lâu tới mức hai chân tê dại. Tôi bắt đầu nghĩ mình điên, một người đàn bà bốn mươi tuổi ngồi giữa bãi đất lúc nửa đêm chờ một đứa con nít đã chết.

Rồi ếch nhái im. Không phải im dần. Cả bàu im một lượt, như có ai úp cái nồi lên. Gió vẫn thổi, nhưng tôi không nghe tiếng gió trong cỏ nữa. Hơi lạnh từ dưới hố bốc lên, lạnh như hơi đất ướt mở ra sau trận mưa lớn, phả vô mặt tôi.

Từ dưới hố có tiếng sột soạt. Tiếng đất bị cào.

Tôi đứng dậy, bước tới, từng bước một. Tôi không bật đèn. Trăng soi xuống lòng hố một vệt xám. Ở góc phía đông, ngay dưới gốc xương rồng, có một cái lưng nhỏ đang cúi.

Một đứa con nít. Nó quỳ dưới đáy hố, hai tay cào vào thành đất, cào chậm, đều, như đứa nhỏ đào cát ngoài biển. Áo bông hoa, dài tới gối, ướt sũng đất. Cái gáy nhỏ trắng bệch dưới trăng, cổ gầy như cọng rau.

Tôi đứng trên miệng hố, ngay trên đầu nó. Tôi không nói được gì. Cổ họng tôi khô khốc.

Đứa nhỏ ngừng cào. Nó không ngẩng lên. Nó đứng dậy, rồi bắt đầu đi. Đi giật lùi, chầm chậm, vòng quanh một cái gì đó dưới đáy hố mà tôi không thấy. Hai tay nó đưa ra phía trước, cong cong như đang vuốt thành một cái nồi vô hình. Đi một vòng, rồi một vòng nữa.

Đó là cách đàn bà làng tôi nặn gốm. Đi giật lùi quanh cái bệ. Mẹ tôi đi như vậy, tôi đi như vậy. Một đứa con nít người Kinh không thể biết đi như vậy, trừ khi có người Chăm dạy.

Tôi bật ra một tiếng, không phải tên ai, chỉ là một tiếng kêu khẽ. Đứa nhỏ đứng lại.

Nó ngẩng đầu lên nhìn tôi.

Gương mặt ấy tôi đã nhìn mỗi sáng gần hai tháng nay trên tấm ván ở hiên. Má tròn mà hóp, cái mái bằng dính bết trên trán, cái nốt ruồi nhỏ dưới mắt trái. Môi nó khô nứt. Nhưng mắt nó không đáng sợ như tôi tưởng. Mắt nó là mắt một đứa con nít đi lạc, mở to, đỏ hoe, nhìn người lớn như nhìn người có thể dắt nó về.

"Cô ơi."

Giọng nó y như giọng trong miệng Mai đêm sốt. Giọng Bình Định non nớt, kéo dài.

"Cô đọc được chữ hông cô?"

Tôi gật đầu. Tôi không biết nó thấy tôi gật không.

"Má em kiếm em. Má em kiếm hoài à. Mà má hổng biết em nằm đây."

Rồi nó đưa tay lên. Hai bàn tay nhỏ, lấm đất, giơ về phía tôi, như con nít đòi người lớn bế. Tôi quỳ xuống mép hố. Tôi không biết tại sao mình làm vậy. Tôi chỉ biết không ai thấy một đứa con nít giơ tay như vậy mà quay lưng được.

Tôi chìa tay xuống. Bàn tay nó chạm vô cổ tay tôi.

Lạnh. Cái lạnh không giống nước, không giống đá. Lạnh như đất sét ở đáy hố sâu, nặng và ướt, bám vào da. Năm ngón tay nhỏ siết lấy cổ tay tôi, không mạnh, nhưng tôi không rút ra được. Tôi cảm thấy da mình bị kéo xuống, nhẹ thôi, như có ai muốn tôi xuống đó cùng.

Rồi mùi rơm cháy bốc lên. Không có lửa ở đâu hết. Chỉ có mùi, nồng nặc, mùi khét ngai ngái của rơm ẩm, như trong buổi chiều đốt gốm. Trong cái mùi ấy tôi nghe giọng đứa nhỏ lần nữa, lần này sát bên tai tôi, dù nó vẫn ở dưới đáy hố.

"Cô Ra ơi... con muốn về..."

Cổ tay tôi được buông ra.

Tôi ngã ngửa ra sau, lưng đập xuống bãi cỏ. Khi tôi ngồi dậy được, bật đèn pin rọi xuống, đáy hố trống trơn. Chỉ có nước rỉ đọng lại một vũng nhỏ, phản chiếu ánh đèn. Trên thành hố phía đông, ngay dưới gốc xương rồng, có một vùng đất bị cào sâu vô, sâu chừng một gang tay.

Tôi ngồi ở đó tới khi gà trong xóm gáy. Ếch nhái kêu trở lại từ lúc nào tôi không biết.

Về tới nhà, trời hửng sáng. Tôi múc nước rửa tay ở lu. Trên cổ tay trái tôi có một vết bầm màu nâu đỏ, không phải màu của bầm máu mà màu của đất bàu. Năm vết ngón tay nhỏ, rõ từng đốt. Tôi kỳ bằng xà bông, kỳ bằng xơ mướp. Nó không phai.

Mẹ tôi đứng ở cửa bếp. Bà nhìn cổ tay tôi, rồi nhìn con gà đất tôi để trên thành lu.

"Con gà đó," bà nói, giọng như của người khác, "mẹ cất trong rương bốn mươi ba năm nay."