Chương 7: Chín ngày năm ấy
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Mẹ tôi mở cái rương gỗ ngay trên bộ ván ngoài phòng khách. Cái rương này có từ đời bà ngoại, gỗ mít sẫm màu, khoá đồng đã gãy, buộc bằng sợi dây dù. Từ nhỏ tới lớn tôi chỉ biết trong đó có mấy bộ váy áo cưới của bà, cái khăn đội đầu thêu chỉ, giấy tờ đất. Tôi chưa bao giờ lục tới đáy.
Dưới đáy rương, dưới lớp vải thổ cẩm gấp vuông, có một gói giấy báo cũ vàng khè. Mẹ tôi mở gói ra bằng hai bàn tay run.
Trong đó có hai cái nút áo bằng nhựa màu xanh lá, hình con bướm, mỗi cái to cỡ đốt ngón tay. Một mảnh vải bông hoa đỏ cắt vuông, màu đã bạc thành hồng nhạt. Và một chỗ lõm trên giấy báo, đúng hình con gà đất bây giờ đang nằm trên thành lu dưới bếp.
"Nó tên Bích."
Mẹ tôi nói chữ đó không tròn, nghe như "Bít". Bà nói tiếng Kinh, giọng Chăm lơ lớ, chậm rãi như người lục lại một thứ đã cất quá lâu.
"Mẹ lượm nó ở gốc me đầu đường, ngoài chỗ ngã ba lên quốc lộ. Hồi đó đầu tháng Tư. Người ta chạy qua đông lắm, xe chạy không được, người đi bộ chen nhau. Nó ngồi dưới gốc me, mặt đỏ gay, khóc không ra tiếng nữa. Mẹ hỏi ba má con đâu. Nó nói má đi kiếm nước, biểu con ngồi đây chờ. Mà xe tới, người ta xô, nó chạy theo, lạc."
Bà dừng lại, tay vuốt cái nút con bướm.
"Nó nói nhà nó có cây dừa, ba nó chạy xe lam. Nó nói tên cái xứ mà mẹ nghe không ra. Phù gì đó. Mẹ hỏi hoài, nó nói hoài, mà tiếng Kinh mẹ hồi đó dở hơn bây giờ. Mẹ chỉ nhớ có chữ Phù."
Tôi ngồi xuống cạnh mẹ. Mai đứng ở cửa buồng, hai tay nắm lấy nhau.
Mẹ tôi kể con nhỏ sốt từ hôm đầu. Sốt rét hay thương hàn, bà không biết. Trạm xá đóng cửa, ông y tá chạy đâu mất. Ngoài Phan Rang súng nổ mấy ngày, rồi tới hôm mười sáu thì im, người ta nói đổi chủ rồi. Bà lấy lá sả, lá bưởi nấu nồi xông. Bà đút cháo. Bà nằm ôm con nhỏ ngủ trên bộ ván này, chính bộ ván tôi đang ngồi.
"Lúc nó tỉnh, nó buồn, nó đòi má. Mẹ đưa nó cục đất, dạy nó nặn. Nó nặn con gà, nặn cái chén. Nó coi mẹ đi giật lùi quanh cái bệ, nó cười, nó cũng đi theo. Đi lòng vòng, té, rồi cười. Con nhỏ khéo tay lắm."
"Nó có viết tên dưới sân không mẹ?"
Mẹ tôi ngẩng lên nhìn tôi, rồi gật.
"Có. Nó lấy que viết, biểu cô coi tên con nè. Mẹ coi mà không đọc được. Mẹ khen giỏi. Chiều đó mưa xuống, trôi hết."
Tới ngày thứ chín, con nhỏ mê man không tỉnh nữa. Gần sáng thì nó đi, trong lòng mẹ tôi, trên bộ ván. Mẹ tôi kể tới đây thì ngừng rất lâu. Ngoài sân, một con gà mái cục tác dưới đống rơm.
"Mẹ không biết làm sao. Người làng mình không ai chịu lo đám cho con người Kinh, không biết theo lễ nào. Chỗ đất của dòng họ không cho người ngoài vô. Mà đi báo thì báo ai. Mới đổi chủ, người lạ đầy đường, ai cũng sợ bị hỏi. Ông ngoại con biểu chôn đi, đừng nói."
Đêm ấy mẹ tôi bọc con nhỏ trong chiếc chiếu cói, cột lại bằng dây lác, cõng ra bãi đất phía đông bàu. Hồi đó chỗ đó còn là đất hoang, ít người tới. Bà đào một mình bằng cái thuổng xắn đất, đào tới gần sáng. Chôn xong, bà sợ người ta thấy đất mới, bèn ôm rơm khô chất lên, châm lửa đốt, như một chỗ đốt gốm bỏ dở. Người đi ngang chỉ thấy tro.
"Mẹ đứng coi rơm cháy tới khi trời sáng. Khói bay về hướng quốc lộ."
Mấy ngày sau, bà đem một nhánh xương rồng ra cắm. Xương rồng dễ sống, không ai nhổ, gai nhọn nên trâu bò cũng tránh. Bà nói lúc đó bà tính sẽ đi tìm nhà con nhỏ, khi nào yên. Rồi có chồng, rồi có tôi, rồi đói kém, rồi bà quên mất cái tên xứ ấy, chỉ còn chữ Phù. Năm nào tới mùa Katê, bà cũng lén ra đặt chén cơm dưới gốc xương rồng.
"Mấy năm nay có cái chương trình trên ti vi," mẹ tôi nói, mắt nhìn về phía cái màn hình đen, "người ta lên kiếm con, kiếm cha mẹ. Mẹ coi hoài. Mẹ không đọc kịp chữ. Mẹ chỉ coi mặt. Coi có ông bà già nào mặt giống nó không. Mẹ nghĩ nếu ba má nó còn sống thì cũng già như mẹ."
Tôi ngồi im. Tôi nhìn cái nút con bướm trong lòng bàn tay mẹ, rồi nhìn vết bầm năm ngón trên cổ tay mình. Trong đầu tôi hiện lên một cảnh tôi đã lướt qua mà không dừng lại. Tối thứ Bảy, tôi bưng thau đồ ngang phòng khách, trên ti vi có một ông già tóc bạc đưa lên một tấm ảnh nhỏ, một bé gái mặt tròn, mái bằng.
Lúc ấy mẹ tôi ngồi ngay trước màn hình. Bà nhìn mặt ông già. Bà không nhìn kỹ tấm ảnh lướt qua có hai giây, bà không đọc dòng chữ chạy bên dưới.
Tôi đứng bật dậy. Mai giật mình. Tôi nói với con, giọng tôi nghe lạ hoắc:
"Mai, lấy điện thoại ra. Kiếm lại chương trình tìm người thân phát hồi đầu tháng Chín cho mẹ."
Con bé chạy vô buồng. Mẹ tôi ngẩng lên nhìn tôi, không hiểu. Đúng lúc đó, ngoài sân có một tiếng rắc khô khốc, dài, như tiếng một tấm ván bị bẻ chậm.
Tôi chạy ra. Nắng đã lên cao, mặt sân đất nện khô cong sau hai tuần không mưa. Giữa sân, từ chỗ đống rơm tới gốc me, mặt đất nứt toác thành những đường dài, sâu, mép thẳng. Những đường nứt ấy không chạy ngoằn ngoèo như đất nẻ.
Chúng là chữ, mỗi chữ dài hơn một sải tay.