Chương 3: Người làm công không vào
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Đầu tháng Hai dương lịch, tôi sang làng bên kia rừng thuê người đào rãnh bón phân. Đi đường tắt qua rừng khộp thì nhanh, nhưng từ bữa nằm mơ tôi không muốn đi lối ấy. Tôi chạy xe máy vòng đường đất đỏ, mất gần nửa tiếng.
Làng nằm trên một gò thấp, nhà sàn với nhà xây lẫn lộn, mái tôn chen mái tranh. Trước sân nhà nào cũng phơi cà phê, phơi mì lát. Trẻ con cởi truồng chạy theo xe tôi, chó sủa rộ cả làng. Người tôi tìm là Siu Thơn, một thanh niên chừng hai lăm, học hết lớp chín, nói tiếng Kinh sõi nhất làng. Vụ trước Thơn dẫn người sang hái cho nhà tôi.
Thơn đồng ý dẫn ba người sang làm. Công tôi trả hơn nhà khác năm nghìn một ngày, vì mùa khô người ta còn bận chở nước.
Hai ngày đầu yên ổn. Đến ngày thứ ba, tôi dẫn họ xuống hàng cà phê vàng lá, bảo đào thử quanh gốc xem rễ có sao không. Họ đào từ đầu hàng phía cổng, đào xuống tới đâu cũng thấy rễ trắng, chẳng có tuyến trùng gì. Đến gần cuối hàng, cách góc rừng chừng ba chục mét, cả ba người đặt cuốc xuống. Họ nói với nhau bằng tiếng Jrai, giọng nhỏ và nhanh.
Thơn quay sang tôi.
"Chỗ đó không đào được đâu chú."
Tôi hỏi sao. Thơn chỉ tay về phía góc rừng, chỗ bụi mua đã bị phát trụi, lộ ra mấy cái cọc gỗ xám.
"Mả nhà Ama Blơi. Mả bỏ rồi. Người làng không vào chỗ đó nữa."
"Mả bỏ là sao?"
Thơn nghĩ một lúc, như tìm chữ.
"Làm lễ bỏ mả rồi. Người chết đi hẳn rồi. Mả để đó cho nó tự mục. Mình không vào, không lấy cái gì ra."
Tôi bảo tôi chỉ muốn xem cái rễ cà phê, không đụng vào mả. Thơn lắc đầu, nhưng thấy tôi đi thì cũng đi theo, cách tôi bốn năm bước. Ba người kia đứng lại.
Lần đầu tiên tôi nhìn kỹ cái góc ấy. Ngày trước nó bị bụi mua với dây leo phủ kín, giờ bị phát sạch, chỉ còn gốc bụi cụt ngủn. Giữa khoảnh đất trống là một cái gò thấp, dài chừng ba mét, cỏ tranh khô mọc lơ thơ. Quanh gò còn một hàng rào cọc gỗ, nhiều cọc đã gãy ngang, mục rỗng ruột, mối đùn đất đỏ lên tận đầu. Phía trên gò có mấy thanh gỗ đổ chéo, chắc ngày xưa là cái mái che.
Ở góc hàng rào phía trong, gần chân gò, có một bức tượng gỗ còn đứng. Tượng một người ngồi bó gối, hai tay ôm lấy mặt. Gỗ đã xám như tro, nứt dọc thớ, mưa nắng gặm mất một bên vai. Nhìn lâu, tôi thấy như người ấy đang khóc mà không thành tiếng.
Ở góc đối diện, chỗ đáng lẽ phải có một bức tượng nữa cho cân, chỉ còn một cái gốc.
Gốc gỗ to bằng bắp đùi người lớn, nhô khỏi mặt đất chừng một gang. Mặt cắt phẳng, còn rõ vết răng cưa xếp đều tăm tắp. Gỗ ở mặt cắt màu vàng nhạt, sáng hẳn so với lớp vỏ xám bên ngoài, chưa kịp sạm màu. Quanh gốc có mấy vết rìu cũ, sâu, mép đã nhẵn, như ai đẽo từ rất lâu rồi. Và có một vết rìu mới, lệch lên trên, chém hụt vào thân gỗ. Vết ấy còn trắng.
Thơn đứng sau lưng tôi. Tôi nghe nó thở hắt ra một tiếng. Tôi quay lại, thấy mặt nó tái đi, môi mím chặt.
"Mất rồi."
Nó nói vậy, rồi nói thêm một tràng tiếng Jrai, không phải với tôi. Tôi hỏi mất cái gì. Thơn không trả lời. Nó quay lưng đi thẳng về chỗ ba người kia, nói gì đó, cả bốn vác cuốc lên vai đi tắt qua rừng khộp về làng. Công ngày hôm ấy họ không lấy.
Tôi đứng một mình trước cái gốc cưa. Gió từ rừng thổi ra, mang theo mùi lá khô cháy ở đâu đó. Tôi nghĩ tới câu thằng Thắng nói hôm phát bụi: dưới đó toàn gốc cây mục, con dọn rồi. Tôi nghĩ chắc nó thấy cái cọc to vướng đường ống nên cưa bỏ, mang về làm củi. Nhưng nhà tôi đun ga, củi để làm gì. Mà quanh nhà cũng không có đống củi nào.
Chiều ấy tôi đợi thằng Thắng về để hỏi. Nó đi thị trấn, tối mịt chưa về, gọi điện thì thuê bao. Tôi ngồi ở hiên uống trà, đợi tới mười giờ thì buồn ngủ díp mắt, vào nằm lúc nào không biết.
Lần này giấc mơ không bắt đầu ở hiên nhà.
Tôi đang nằm trên giường, trong màn, đúng như thật. Cửa buồng mở. Ông già đứng ở ngưỡng cửa, cái áo bộ đội cũ rách vai, mùi gỗ mục với mùi khói bếp sực nức cả buồng. Ông không đứng ở rẫy nữa. Ông đã ở trong nhà tôi.
Ông bước tới bên giường. Không có tiếng chân. Màn không động. Ông cúi xuống, đặt một bàn tay lên ngực tôi, đúng chỗ tim. Bàn tay lạnh như hòn đá ngâm dưới suối, nặng như một khúc gỗ. Tôi không thở được.
Ông không hỏi nữa. Ông chỉ nói một chữ, rất gần mặt tôi.
"Trả."
Tôi bật dậy. Ngực đau buốt, chỗ ấy lạnh tê như vừa áp đá. Lành ngủ say bên cạnh. Ngoài sân con Mực không sủa. Tôi gọi nó, không thấy nó chạy tới.
Sáng ra tôi tìm khắp nhà, khắp rẫy. Con Mực không còn ở đâu nữa. Cái xích nó vẫn buộc ở cột hiên, vòng cổ còn nguyên khóa, nằm trên đất đỏ.