Chương 5: Thầy dưới xuôi
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Ba ngày liền thằng Thắng sốt. Sáng hạ, chiều lại lên, đêm thì nói mê. Tôi chở nó ra phòng khám tư ở thị trấn, bác sĩ cho thử máu, chụp phổi, chẳng thấy gì. Không sốt rét, không sốt xuất huyết. Bác sĩ bảo chắc cảm nắng, mùa khô năm nay nhiều người bị, cho về uống thuốc hạ sốt với truyền hai chai nước.
Về nhà, nó nằm quay mặt vào vách. Tôi ngồi bên giường hỏi nó đêm qua mơ thấy gì. Nó bảo không nhớ. Tôi hỏi nó có biết cái gốc cưa ở góc rẫy không. Nó kéo chăn trùm kín đầu.
Lành thì không chờ được nữa. Bà ấy là người Thái Bình, lớn lên giữa đình chùa với các cô đồng ông đồng, con ốm mà thuốc không khỏi thì nghĩ ngay tới chuyện âm phần. Bà ấy gọi điện cho cô em họ ở Pleiku, hỏi được một ông thầy người Kinh, quê Nam Định, lên đây từ những năm tám mươi, người ta gọi là thầy Tịnh.
Thầy Tịnh đến vào chiều thứ Bảy, đi xe Dream cũ, mang theo một cái túi du lịch đựng đồ lễ. Ông chừng sáu mươi, gầy, đeo kính trắng, nói giọng Nam Định đã pha giọng Tây Nguyên. Ông vào buồng nhìn thằng Thắng, bắt mạch cổ tay nó, rồi bảo tôi dẫn ra rẫy.
Ông không cần tôi chỉ. Đứng ở đầu dốc, ông nhìn một lượt rồi đi thẳng xuống hàng cà phê vàng lá. Lá rụng giờ đã dày, giẫm lên kêu xào xạo. Ông đi chậm, thỉnh thoảng cúi xuống nhặt một lá lên ngửi. Tới cuối hàng, ông dừng ở mép khoảnh đất trống, không bước vào.
Ông nhìn cái gò mả, nhìn bức tượng người ngồi ôm mặt. Rồi ông nhìn cái gốc cưa rất lâu.
"Anh bảo đây là cái cọc?"
"Vâng. Thằng cháu nó phát bụi, nó bảo toàn cọc mục."
"Cọc rào không to thế này. Cũng không ai đẽo cọc rào bằng rìu kỹ thế này. Đây là chân tượng. Người ta cưa ngang chân, lấy cái thân đi rồi."
Tôi không nói gì. Thầy Tịnh cũng không hỏi tôi ai cưa. Ông bày lễ ngay ở mép khoảnh đất, trên một tấm ni lông trải xuống đất đỏ. Một con gà luộc, đĩa xôi, chai rượu, mấy quả cam, một xấp vàng mã với mấy bộ quần áo giấy. Ông thắp hương, khấn bằng giọng đều đều. Tôi nghe được mấy câu: tín chủ Vũ Văn Khiêm, quê quán Thái Bình, nay ngụ tại đây, có điều gì sơ suất xin các vị khuất mặt khuất mày bỏ qua.
Gió từ rừng khộp thổi ra. Ba nén hương cháy rất nhanh, tàn hương không rơi thẳng mà dài ra, cong về phía bức tượng người ngồi.
Thầy Tịnh châm lửa đốt vàng mã. Giấy khô, trời khô, lẽ ra phải bùng lên. Lửa bén được góc xấp vàng thì tắt. Ông châm lại. Lại tắt. Lần thứ ba ông lấy tay che gió, lửa cháy được, nhưng khói không bốc lên. Khói bò sát mặt đất, trườn theo hàng cà phê vàng lá, đi ngược lên phía nhà tôi, chậm và đặc như sương.
Tôi đứng nhìn khói bò đi, tay chân lạnh dần dù nắng chiều còn gắt.
Thầy Tịnh không đốt tiếp. Ông lấy que gạt chỗ vàng mã cháy dở ra, giẫm tắt, rồi cúi xuống nhặt từng thứ trên tấm ni lông bỏ lại vào túi. Ông làm việc ấy rất nhanh, như người dọn hàng khi trời sắp mưa.
"Thầy ơi, sao thế ạ?"
"Người ta không nhận. Mà người ta cũng không phải người mình, anh ạ. Tôi cúng theo lối mình, người ta không hiểu, mà tôi cũng không hiểu người ta."
Ông kéo khóa túi, đứng thẳng lên, nhìn tôi qua cặp kính.
"Tôi đi đám nhiều rồi. Người khuất về đòi ăn đòi mặc thì cúng là xong. Người này không đòi ăn. Người ta đòi một cái gì đó, của người ta, đang ở chỗ không phải chỗ của nó. Nhà anh trả lại thì yên. Không trả, cúng gì cũng vô ích."
Tôi đưa phong bì, ông không nhận. Ông bảo tiền này ông không cầm được. Lành chạy ra cổng níu, ông chỉ nói một câu với bà ấy: chị trông thằng con, đêm đừng để nó ngủ một mình. Rồi ông nổ máy xe Dream đi thẳng, không quay đầu lại.
Đêm ấy Lành trải chiếu nằm dưới đất trong buồng thằng Thắng. Tôi ngồi ở hiên, đèn pin trên đùi, cái điếu cày dựng bên cột. Từ bữa con Mực bỏ đi, đêm trên rẫy lặng hẳn. Không có tiếng chó, tiếng côn trùng cũng thưa. Thỉnh thoảng gió đẩy một lớp lá khô trượt trên mái tôn, nghe như có người kéo lê cái gì qua mái.
Tôi không ngủ. Tôi chắc chắn là tôi không ngủ. Tôi nhớ mình còn rít một điếu thuốc lào lúc khuya, còn nghe Lành trở mình trong buồng.
Nhưng gần sáng, khi trời bắt đầu xám, tôi giật mình như người vừa ngủ gật. Cổ tôi cứng đờ. Trên rẫy có sương, thứ sương mỏng đầu mùa khô, phủ lờ mờ trên đầu các hàng cà phê.
Tôi đứng dậy vươn vai, đi ra sân, và tôi thấy.
Cái vệt vàng lá đã không dừng lại ở đường đất trước cổng nữa. Nó băng qua đường. Bụi dâm bụt Lành trồng ở hàng rào trước sân, khóm nào cũng xanh, riêng khóm sát cổng, đúng thẳng hàng cà phê thứ mười bảy, lá đã vàng úa, rũ xuống.
Cái vệt chạy tới hiên nhà, nơi thằng Thắng dựng chiếc Exciter.
Trên yên xe, ai đó đã xếp một lớp lá cà phê vàng. Lá xếp chồng lên nhau ngay ngắn, cuống quay vào trong, thành một vòng tròn trũng ở giữa, như cái ổ người ta lót để đặt một đứa trẻ nằm.