Chương 6: Đêm canh máy bơm
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Giữa tháng Ba, cái hồ chứa đầu dốc cạn trơ đáy. Đáy hồ nứt thành từng mảng như mai rùa, mấy con cá rô ông Phúc thả từ trước chết khô, bốc mùi tanh lợm. Cả xã hết nước. Ủy ban bảo năm nay hạn nhất mấy chục năm. Ai còn nguồn nước nào thì giữ như giữ vàng.
Nhà tôi còn con suối dưới chân rẫy, chỗ giáp rừng khộp, cách cái góc mả chừng sáu chục mét. Suối gần cạn, nhưng có một vũng sâu dưới gốc cây sung còn nước. Tôi thuê xe chở cái máy nổ D12 xuống đặt cạnh vũng, kéo ống lên tưới cứu cho mấy hàng cà phê sắp chết. Điện lưới không kéo xuống tới đó được, phải chạy dầu.
Mùa ấy trộm máy bơm như rươi. Nhà bên kia đồi mất hai cái máy trong một tuần. Tôi phải ngủ lại canh máy.
Thằng Thắng vẫn sốt, lúc tỉnh lúc mê. Lành ở nhà với nó. Tôi ôm cái chăn bông, cái đèn pin, một can nước chè với con dao quắm, xuống dựng cái võng giữa hai gốc sung cạnh máy nổ. Máy chạy đều, tiếng nổ phành phạch vang vào rừng. Ánh đèn bão treo ở cành sung đủ soi một vòng đất đỏ quanh chân.
Tôi ngồi đó tới khuya. Tôi đã quyết là đêm ấy mà gặp, tôi sẽ hỏi cho ra. Cả tháng nay tôi chỉ đứng im nghe hỏi. Lần này tôi phải hỏi lại.
Gần nửa đêm, máy nổ hết dầu. Tôi lấy can đổ thêm, giật dây nổ lại. Máy không nổ. Tôi giật năm sáu lần, mồ hôi túa ra lưng. Máy vẫn im.
Khi tiếng máy tắt, tôi mới nhận ra cả cánh rừng khộp im theo.
Không phải im bình thường. Đêm mùa khô ở đây vẫn có tiếng dế, tiếng chim cú, tiếng lá khô rơi lộp bộp. Đêm ấy không có gì hết. Cái im như có người vặn nút tắt cả rừng. Ngọn đèn bão trên cành sung cháy thẳng đứng, không lay. Tôi ngửi thấy mùi gỗ mục ẩm và mùi khói bếp, cái mùi tôi đã ngửi thấy trong buồng đêm nào.
Tôi quay về phía rừng.
Ông già bước ra từ giữa hai gốc cây dầu. Không phải trong mơ. Tôi đang đứng, tay còn cầm sợi dây giật máy nổ, ống quần còn dính dầu. Ông đi chậm, lưng hơi còng, cái áo bộ đội cũ phất phơ quanh người. Đèn bão không chiếu tới ông, vậy mà tôi vẫn thấy ông, rõ như thấy một người đứng trong bóng râm giữa trưa.
Ông không nhìn tôi. Ông đi thẳng tới góc mả, bước qua hàng rào cọc mục như không có rào. Ông tới cái gốc cưa thì dừng lại, rồi khuỵu xuống, hai đầu gối chạm đất.
Ông đưa bàn tay lên sờ mặt cắt của cái gốc. Sờ chậm, từ mép này qua mép kia, như người mù sờ mặt người thân. Rồi ông khum hai tay lại, nâng lên ngang ngực, ôm khoảng không ấy, đu đưa rất nhẹ.
Tôi bước tới. Tôi không biết sao chân mình bước được. Tôi dừng lại ở mép khoảnh đất trống, cách ông chừng năm bước.
"Ông ơi. Con ông là ai? Ông nói cho tôi biết, tôi đi tìm."
Ông già ngừng đu đưa. Ông quay đầu nhìn tôi. Mặt ông không có gì đáng sợ. Một khuôn mặt già, nhăn, mắt đục như mắt người bị cườm, nhưng không giận. Chỉ mệt. Cái mệt của người đi tìm một thứ đã lâu lắm mà không thấy.
Ông không trả lời. Ông đứng dậy, bước ra khỏi khoảnh đất mả, đi ngang qua tôi. Hơi lạnh từ người ông phả vào cánh tay tôi, lạnh buốt như mở tủ đá. Ông đi vào hàng cà phê thứ mười bảy, hàng vàng lá, rồi đi lên phía dốc.
Tôi đi theo.
Ông đi đúng giữa cái vệt đất bị miết phẳng. Lá vàng hai bên rụng xuống theo bước ông, từng lá một, không có gió. Tôi đi sau, đèn pin trên tay mà không dám bật. Rẫy dốc, tôi thở hồng hộc. Ông thì đi đều, không chậm không nhanh.
Ông lên tới đường đất, băng qua, đi tới khóm dâm bụt vàng úa ở cổng, rồi đi vào sân nhà tôi.
Dưới hiên, chiếc Exciter dựng chân chống. Ông già dừng lại bên chiếc xe. Ông nhìn nó rất lâu. Rồi ông quay sang nhìn cái cửa sổ buồng thằng Thắng. Cửa sổ đóng, trong buồng có ánh đèn ngủ vàng vọt.
"Ông ơi."
Tôi gọi, giọng khàn đặc. Ông già quay lại phía tôi, lần đầu tiên nhìn thẳng vào mắt tôi trong lúc tôi đang thức.
"Mày biết."
Không phải câu hỏi. Ông nói như người ta nói một chuyện cả hai đã rõ. Rồi ông không còn ở đó nữa. Không tan, không mờ. Chỉ là chỗ ấy hết người.
Tôi đứng giữa sân tới khi gà nhà bên kia đồi gáy.
Sáng ra, tôi quay xuống góc mả. Tôi muốn nhìn lại chỗ ông già quỳ. Đất ở đó vẫn như cũ, cứng và đỏ. Nhưng ở cái hõm tròn đầu vệt kéo, chỗ tôi thấy đoạn dây nhựa vàng hôm nào, có một mẩu gỗ nhỏ nằm lộ ra. Hình như lớp đất mặt bị cào lên trong đêm.
Tôi nhặt lên, phủi đất. Mẩu gỗ dài chừng hai đốt ngón tay, màu nâu sẫm, mặt ngoài nhẵn bóng vì mưa nắng, mặt gãy còn tươi màu. Trên đó có những đường đẽo rất khéo. Năm đường khía nhỏ, đều nhau, cong cong.
Đó là một bàn tay. Bàn tay rất nhỏ, của một đứa trẻ mới đẻ, đẽo bằng gỗ, nắm hờ lại như đang níu vào thứ gì.
Tôi ngẩng lên nhìn về phía nhà. Ở cửa sổ buồng thằng Thắng, rèm vừa được vén ra. Thằng Thắng đứng đó, mặt trắng bệch vì sốt, nhìn xuống tôi, nhìn bàn tay tôi. Rồi nó buông rèm.