☾ Truyện Ma Có Thật
← Vai diễn Thị Mầu

Chương 9: Người không ra vai

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Ba hôm sau buổi diễn cuối, huyện có quyết định giải thể đoàn ngay, không đợi đến Tết. Người ta bảo phòng văn hoá huyện không muốn dính vào chuyện ma. Chị Lụa khóc cả buổi trưa ở trụ sở đoàn, rồi gói ghém áo diễn, về quê chồng bên Nga Sơn.

Ông Hiển không ra khỏi nhà. Người Kim Đông kể nhà ông đóng cửa cả ngày, tối không thắp đèn, chỉ nghe tiếng ông ho.

Bố tôi thì vẫn là cô Thắm.

Những ngày trước buổi diễn, cô Thắm trong bố tôi còn có lúc lẫn. Có lúc ông cầm đũa tay phải, có lúc ông ngáy, có lúc ánh mắt ông nheo lại một thoáng. Sau đêm ấy thì không còn lúc nào nữa. Ông ăn bằng tay trái. Ông buộc khăn bằng tay trái. Ông ngồi khép gối suốt ngày trên phản, mặt hướng về phía biển.

Ông không nhận ra tôi. Ông gọi tôi là em, hỏi tôi con nhà ai, sao cứ ở nhà chị Hoà mãi. Ông gọi u là chị, lễ phép và xa cách như người ở nhờ.

Ông ăn ít dần. Ngày đầu còn được lưng bát cháo. Ngày thứ tư chỉ uống nước. Má ông hóp vào, quầng mắt thâm đen. Giọng cô Thắm trong ông mỏng dần đi, như một sợi chỉ bị kéo căng.

U tôi không dệt chiếu nữa. Khung dệt ngoài hiên phủ một lớp bụi muối. U ngồi cạnh bố cả ngày, bón nước bằng thìa, đêm nằm ôm lưng ông, sợ ông lại đi ra bãi cói.

Ông Bạ, cái người từng nhổ bã trầu bảo bố tôi giả gái, mang sang một gói thuốc bắc. Ông đứng ở hiên nhìn vào một lúc, rồi đặt gói thuốc xuống bậc, đi về không nói câu nào.

Thầy Lảng đến lần thứ hai vào ngày thứ năm. Thầy bày lễ, khấn, hỏi, rồi ngồi im rất lâu, nhìn bố tôi qua cặp kính vá chỉ.

"Nó đóng xong vai rồi," thầy nói với u tôi. "Mà nó chưa đi. Nó đợi cái gì đó."

"Nó đợi gì hả thầy?"

"Đợi người làm ra chuyện ấy nói ra trước làng. Vong oan là thế. Người ta chưa nhận, nó chưa đi."

Thầy ngừng một lúc. Thầy nhìn quanh nhà, nhìn bàn thờ, nhìn cái phản bố tôi ngồi.

"Có điều này lạ. Vong không tự vào được người đâu, chị ạ. Phải có người mở cửa cho nó. Hồn anh Chút yếu, hoặc chính anh Chút gọi nó vào. Mà gọi vào thì dễ, mời ra mới khó."

U tôi tái mặt. U không nói gì. Tôi đứng ở chân cột, nhớ lại cái đêm trong đình, bố tôi quỳ dưới chân giàn, chắp tay. Thắm ơi, cho anh mượn ít hôm.

Tối hôm ấy, bố tôi bỗng nói nhiều hơn mọi ngày. Ông ngồi bên mâm, cầm cái bát nước bằng tay trái, nhìn vào ngọn đèn dầu.

"Chị Hoà ơi. Cái khăn của em, anh Hiển giữ."

U tôi ngẩng lên.

"Khăn nào?"

"Khăn mỏ quạ của em. U em nhuộm bằng củ nâu, hai lần nước. Hôm ấy em đội lên giàn. Lúc em nằm dưới chiếu, anh Hiển cởi nó ra khỏi đầu em, nhét vào túi áo. Anh ấy cất trong cái hòm sắt, dưới gầm giường, bọc trong giấy báo. Mười bốn năm rồi anh ấy không vứt."

Ông đặt bát nước xuống.

"Em muốn lấy về cho u em. U em tìm cái khăn ấy mãi."

Tôi nhớ bà Khúc kể ở Cồn Nhì: khi người ta khiêng Thắm về, cái khăn mỏ quạ trên đầu nó đã không còn. Bà đã tìm khắp đình, khắp đường đê. Nhưng bà không hề nói chuyện ấy với bố tôi. Bố tôi mười bốn năm không bước chân đến Cồn Nhì.

Và cái hòm sắt dưới gầm giường nhà ông Hiển, ở tận Kim Đông, thì ai biết được.

Đêm ấy bố tôi lên cơn sốt. Ông nằm vật trên phản, người nóng như hòn than, miệng lẩm bẩm không thành câu. Lúc thì giọng cô Thắm gọi u ơi. Lúc thì một giọng khàn, đứt quãng, tôi phải nghe mấy lần mới nhận ra là giọng bố tôi, rất xa, như người gọi từ đáy một cái hố sâu.

"Hoà ơi... cái vở..."

U tôi cúi sát xuống. Ông không nói thêm được gì. Hơi thở ông khò khè, ngắn dần.

U chạy sang nhà bà Gái gọi người đi mời y tá xã. Tôi ngồi một mình cạnh bố, cầm tay ông. Tay ông nóng rực, nhưng mấy ngón tay trái cứ co lại, co lại, như đang cố cầm một sợi dây vô hình.

Tôi nghĩ đến chữ cái vở. Bố tôi có một cuốn vở chép vai, đi đâu cũng mang theo, trong đó ông chép lời các vai hề, chú thích chỗ nào ngân, chỗ nào ngắt, chỗ nào chọc cười. Từ hôm ông ngã, tôi chưa thấy cuốn vở ấy đâu.

Tôi lục cái túi cói đi diễn của ông. Không có. Tôi lục rương quần áo. Không có. Rồi tôi nhớ ra, mấy hôm trước buổi diễn đầu, có lần tôi thấy ông lật chiếu trên phản lên, cất cái gì đó xuống dưới.

Tôi lật mép chiếu chỗ ông nằm. Dưới chiếu, kẹp giữa hai tấm ván phản, là một gói nilon xanh buộc chun.

Trong gói là cuốn vở chép vai. Bìa giấy xi măng, gáy dán băng dính. Tôi mở trang đầu dưới ánh đèn dầu. Chữ của bố tôi, nét to, nghiêng, chữ của người chỉ học hết lớp bảy.

Dòng đầu tiên viết: "Vai: Thắm. Tập từ tháng Tám."